ĐI BI TH NHÃN N-PHÁP



1. - PHN L BÁI SÁM HI


( Trước tiên ra tay, ra mt, l phc nghiêm-chnh. Khi đến nơi l tng, Hành-gi dùng N KIT TƯỜNG, tay trái ngón cái  nm co đu ngón vô danh, v và tưởng ch LAM. 



sc trng trong lòng tay mt 3 ln.  Ri tay mt cũng kiến  v  vào lòng tay trái y như vy. Kế tiếp đt hương ri bước lui đng chp tay trước bàn Pht, đc bài k tán)

 

Pháp vương vô-thượng tôn

Tam-gii vô luân tht

Thiên nhơn chi Ðo-sư

T-sanh chi t-ph

Ư nht nim quy-y

Năng dit tam-kỳ nghip

Xưng dương nhược tán-thán

c kiếp mc năng tn.

Năng l, s l tánh không tch,

Cng đo-giao nan tư nghì,

Ngã th đo-tràng như Ðế-châu,

Thp phương chư Phnh hin trung,

Ngã thân nh hin chư Pht tin,

Ðu din tiếp túc quy mng l.

 

(Hành gi có th đc bài k tán khác mà mình thích)

 

 

PH L CHƠN NGÔN

 

UM! VA JI(ri) RA MẬT

(7 ln)


(AUM ! VÀJRA MÙD.)



            ( Trong khi tng chú, kiết N KIM CANG HIP CHƯỞNG đ trên đu, chp hai tay li  ngón so le, hu áp t. Theo Mt-giáo, nên tưởng mình hin thân khp pháp-hi 10 phương, l kính chư PHT. Xong x n ngay nơi đnh.)

 

 

CHÍ TÂM ĐNH L: Nam-mô Tn hư-không, biến pháp-gii, quá, hin, v-lai thp-phương chư Pht, Tôn-Pháp, Hin-Thánh Tăng, Thường-tr Tam-Bo. (1 ly)

 

CHÍ TÂM ĐNH L: Nam-mô Ta-bà Giáo-ch Bn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Pht, Ðương-lai h sanh Di-Lc Tôn Pht, Ði-trí Văn-Thù Sư-Li B-tát, Ði hnh Ph-Hin B-tát, H-pháp Chư-tôn B-tát, Linh-sơn hi thượng Pht B-tát. (1 ly)

 

CHÍ TÂM ĐNH L: Nam-mô Tây-phương Cc-lc thế-gii Ði-t Ði-bi A-Di Ðà Pht, Ði bi Quán-Thế-Âm B-tát, Ði-Thế-Chí B-tát, Ði-Nguyn Ða-Tng-vương B-tát, Thanh-tnh Ði-hi-chúng B-tát. (1 ly)

 

 

(Kế tiếp, quỳ trước bàn Pht, chp tay, chí-thành, đc bài k Sám-hi)

 

Đệ tử (pháp danh...) một lòng sám hối

Về trước con tạo nhiều nghiệp ác

Đều do vô thỉ tham, giận, mê

Từ thân, miệng, ý mà sanh ra

Nay con xin sám hối tất cả

Con nguyện thân tâm thường tinh tấn

Chướng duyên trong ngoài đều tiêu trừ

Lâm chung chánh niệm về tây phương

Mãn nguyện Bồ đề độ hàm thức.


Nam mô cầu sám hối Bồ tát Ma ha tát (3 lần)

 

 

2.- PHN TRÌ CHÚ NIM PHT

 


( Ngi kiết già hoc bán già trước bàn Pht. Tnh tâm trong giây phút, rTưởng ch  "LAM" sTrng trên đu, phóng ánh sáng Đ.) 

 


( Kế dùng n Kiết tường Viết và Tưởng ch "LAM" cùng ch "HÙM" cũng đu sTrng, gia trì Hai lòng bàn tay và Chui, mi nơi ba ln.

 

Li tiếp dùng n Kiết tường, gia trì S CHÂU chân ngôn sau đây nơi tràng Chui, xong búng Ba cái, x n trên Đnh.)

                

 

GIA TRÌ S CHÂU CHÂN NGÔN

 

UM! VAI RÔ CA NA MA RA XÓA HA 

 (7 ln)


(AUM !  VAIROCANA MARA SVĀHĀ)


( X n xong, vn ngi chp tay tng bài Hương tán)

 

Nguyn th diu hương vân,

Biến mãn thp phương gii,

Cúng dường nht-thế Pht,

Tôn pháp chư B tát,

Vô-biên Thanh văn chúng,

Cp nht thế Thánh-Hin,

Duyên khi quang minh đài,

Xng tánh tác Pht-s,

Ph huân chư chúng-sanh,

Giai phát B tâm,

Vin-ly chư vng-nghip,

Viên-thành vô-thượng đo.

 

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI B TÁT MA HA TÁT (3 ln)

 

 

(Vn chp tay tng tiếp bài tán Vô Lượng Th)

         

Quang, th khó suy lường,

Sáng lng khp mười phương.

Thế Tôn Vô Lượng Quang,

Cha lành cõi Liên ban.

Thn lc chng tư nghì,

Sng lâu A tăng kỳ.

A-Di-Đà Như Lai,

Tiếp dn lên liên đài.

Cc Lc cõi thun tnh,

Công đc l trang nghiêm.

Nơi tt c qun sanh,

Vượt lên ngôi Bt thi.

Mười phương hng sa Pht.

Đu ngi khen Vô Lượng.

Cho nên hôm nay con,

Nguyn sanh v An Dưỡng.

 

NAM MÔ LIÊN TRÌ HI HI PHT B TÁT (3 ln)

 

(Tiếp tng) 


PHỔ THANH TỊNH CHÂN NGÔN

 

UM!  SOA PHẠ VA SUÝT ĐA, SẠT VA ĐẠT MA,

SOA PHẠ VA SUÝT ĐA HÀM.

UM! LAM LAM LAM.

(7 lần)

 

( AUM!  SVABHÀVA SUDDHA, SARVA DHARMA, 

SVABHÀVA SUDDHA HA

AUM !  RAM RAM RAM )

 

 

(Khi tng chú này, kiếChun Đ bin. C hai tay, ngón cái nm co ba ngón: tr, vô danh và út. Kế hip hai li, hai ngón gia dm đu nhau dng đng. Tng xong x n nơđnh.

 

Đây là phi hp chú Tnh tam nghip và Tnh pháp gii. Chân ngôn này có công năng khiến cho bên trong: thân, khu, ý, y phc, bên ngoài t ch  ca mình đến hoàn cnh rng xa đu thanh tnh. Do chú này, ti chướng đu được tiêu tr, có th thành tu các vic thù thng.) 


H THÂN CHƠN NGÔN

 

       UM ! VA JI(ri) RA, A NGHĨ NI, 

BÁ RA NĂM BÌ ĐÁ DA, XÓA HA.

   UM ! X-LÂM X-LÂM X-LÂM.

(7 ln)


( AUM! VAJRA AGNI 

PRA NÀMBIDHÁYA SVAHA. 

AUM! SRAM SRAM SRAM)


 

Khi tng chú này, kiến B giáp h thân, Hành gi xoa hai tay vào trong, hu áp t, hai ngón gia dng đu dính vào nhau, hai ngón cái áp vào ngón vô danh. Hai ngón tr cong li như lưỡi câu, nhng không đng vào lưng hai ngón gia.

Đây là phi hp chú h thân trong nghi Thp bát đo và Mn Thù Nht T chân ngôn "X LÂM", khi kiết tng n chú này, thân ca đương nhơn lin được mc giáp tr. Tt c loài ma làm chướng ngi, bng thy hành gi oai đc t ti, ánh sáng bao ph chói ngi, lin tan rã b chy. Sc chân ngôn ny có th bo v được bn thân và tt c mi người quanh. Các ách nn như: nước, la, cp, sói, sư t, dao gy, gông xing thy điu tiêu dit. Khi tng chú này xong 7 biến lin x n nơi đnh.


Kế hai tay đu kiến Kim cang quyn, ngón cái bm vào gc ngón vô danh, nm cht li. 



Ri đem n in vào các nơi: 


1. trán, 

2. yết hu, 

3. hai vai, 

4. ngc, 

5. rún, 

6. hai bp đùi, 

7. sau thn môn, 

8. xương gu c 

9. và đnh ri x n. 


Trong khi y ming tng ch Hùm 



liên tiếp, cho đến khi x n ri mi thôi. Đây là pháp thc trn tà ma không cho xâm nhp vào thân.)


Nam-mô Đại-Bi hội thượng Phật Bồ-tát. (3 lần)


Kính lạy Quán-Âm chủ Đại-bi,

Sức nguyện rộng sâu, thân tướng đẹp,

Ngàn mắt quang-minh khắp chiếu soi,

Ngàn tay trang-nghiêm khắp nâng đỡ.

Nơi tâm vô-vi khởi lòng bi,

Trong thể chân-thật tuyên lời mật.

Mau cho đầy-đủ những mong cầu,

Hay khiến dứt trừ nhiều tội nghiệp.

Thiên long các thánh đều từ-hộ, 

Trăm ngàn tam-muội đã huân-tu. 

Thân thọ-trì là quang-minh-tràng, 

Tâm thọ-trì là thần-thông-tạng.

Rửa sạch trần-lao khơi b nguyện. 

Mở môn phương-tiện đến bồ-đề.

Nay con khen ngợi thệ qui-y,

Nguyện chỗ mong cầu được thành tựu.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau biết tất cả pháp.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm được mắt trí huệ

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau độ các chúng sanh

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm được phương tiện khéo

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau lên thuyền bát nhã

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm.

Nguyện con sớm được qua biển khổ

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau được đạo giới định.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm lên non Niết Bàn

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con mau về nhà vô vi,

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Nguyện con sớm đồng tâm pháp tánh.

Nếu con hướng về nơi non đao,

Non đao tức thời liền sụp đổ,

Nếu con hướng về lửa nước sôi

Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.

Nếu con hướng về cõi Địa ngục

Địa ngục liền mau tự tiêu tan

Nếu con hướng về loài ngạ quỷ

Ngạ quỉ liền được tự no đủ

Nếu con hướng về chúng Tu La

Tu La tâm ác tự điều phục

Nếu con hướng về các súc sanh,

Súc sanh tự được trí huệ lớn.




 Nam mô Thiên Thủ Thiên Nhãn 

Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma ha tát 

(3 lần)



Ðại-Bi-Tâm Ðà-Ra-Ni



Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da.1

Nam-mô a rị da2, bà lô yết đế thước bác ra da3, Bồ-đề tát đỏa bà da4, ma ha tát đỏa bà da5, ma ha ca lô ni ca da6Án!7, tát bàn ra phạt duệ8, số đát na đát tỏa9.

Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da10, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà11.

Nam-mô na ra cẩn trì12, hê rị ma ha bàn đa sa mế13, tát bà a tha đậu thâu bằng14, a thệ dựng15, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma bà già16, ma phạt đạt đậu17đát điệt tha.18

Án, a bà lô hê19, lô ca đế20, ca ra đế21, di hê rị22, ma ha bồ-đề tát đỏa23, tát bà tát bà24ma ra ma ra25, ma hê ma hê, rị đà dựng26, cu lô cu lô kiết mông27, độ lô độ lô, phạt xà da đế28, ma ha phạt xà da đế29, đà ra đà ra30, địa rị ni31, thất Phật ra da32, dá ra dá ra33.

Mạ mạ phạt ma ra34, mục đế lệ35, y hê di hê36, thất na thất na37, a ra sâm Phật ra xá-lợi38, phạt sa phạt sâm39, Phật ra xá da40, hô lô hô lô ma ra41, hô lô hô lô hê lỵ42, ta ra ta ra43, tất rị tất rị44, tô rô tô rô45, bồ-đề dạ bồ-đề dạ46, bồ-đà dạ bồ-đà dạ47, di đế rị dạ48, na ra cẩn trì49, địa rị sắc ni na50, ba dạ ma na51, ta bà ha52.

Tất đà dạ53, ta bà ha54. Ma ha tất đà dạ55, ta bà ha56. Tất đà du nghệ57, thất bàn ra dạ58, ta bà ha59. Na ra cẩn trì60, ta bà ha61. Ma ra na ra62, ta bà ha63. Tất ra tăng a mục khê da64, ta bà ha65. Ta bà ma ha, a tất đà dạ66, ta bà ha67

Giả kiết ra a tất đà dạ68, ta bà ha69. Bà đà ma yết tất đà dạ70, ta bà ha71. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ72, ta bà ha73. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ74, ta bà ha75.

Nam-mô hắt ra đát na, đa ra dạ da76.

Nam-mô a rị da77, bà lô yết đế78, thước bàng ra dạ79, ta bà ha80.

Án! Tất điện đô81, mạng đa ra82, bạt đà dạ83, ta-bà ha84.

 

( Tụng mỗi ngày ít nhất là 5 lần 

Ðại-Bi-Tâm Ðà-Ra-Ni trở lên )




Ma Ra Ma Ra [25]

Án-- phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra.

UM! BÚT RUM!  HÙM!



HÙM!


( Tụng mỗi ngày ít nhất là 108 LẦN THỦ NHÃN trở lên

như trì Như-Ý-Châu Thủ Nhãn Ấn Pháp chẳng hạn.)





(Quỳ trước bàn Phật)

Nhựt-Quang Bồ-tát 

Đà-ra-ni


Nam mô Bột-đà cù na mê. 

Nam mô Đạt-mạ mạc ha đê. 

Nam mô Tăng-già đa dạ nê.

Để ch b tt tát đt chiêm np mạ. 


(3 LẦN 3 LẠY)





Nguyệt-Quang Bồ-tát 

Đà-ra-ni

 

Thâm đê đế đ tô tra. A nhã mt đế ô đô tra. Thâm kỳ tra. Ba li đế. Gia di nhã tra ô đô tra. Câu la đế tra kỳ ma tra. Sá-ph h.  (5 LẦN)



(vẫn quỳ, tiếp sám hối)


Chí tâm sám hối:

Đệ tử .... cùng pháp-giới chúng- sanh, hiện-tiền một tâm, vẫn đủ ngàn pháp, đều có sức thần, cùng với trí sáng, trên sánh chư Phật, dưới đồng muôn loài. Bởi niệm vô-minh, che ánh sáng kia, nên đối cảnh hôn mê, khởi lòng chấp nhiễm, trong pháp bình-đẳng, sanh tưởng ngã nhơn. Lại do ái-kiến làm gốc, thân miệng làm duyên, trong nẻo luân hồi, gây nên đủ tội: thập-ác ngũ nghịch, báng pháp báng người, phá giới phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng-kỳ, bức người tịnh-hạnh, xâm tổn thường-trụ, đồ vật thức ăn, dù ngàn Phật ra đời, khó bề sám hối. Những tội như thế, không lường không ngần, khi bỏ bảo thân, phải đọa tam-đồ, chịu vô-lượng khổ.


Lại trong đời này, do túc, hiện chướng, hoặc bị các nghiệp: lửa phiền thiêu đốt, tật bịnh vây quanh, duyên ngoài lôi cuốn, tà ma quấy nhiễu, làm ngăn đạo pháp, khó nổi tiến tu.

May gặp thần-chú, Viên-Mãn Đại-Bi
, có thể mau trử, những tội như thế, cho nên nay con, hết lòng tụng-trì, con nguyện nương về, Quán- Âm Bồ-tát, cùng Phật mười phương, phát lòng bồ-đề, tu hạnh chân- ngôn, cùng với chúng-sanh, tỏ bày các tội, cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu trừ.

Nguyện đấng Đại-bi, Quán-Âm Bồ-tát, ngàn tay nâng đỡ, ngàn mắt chiếu soi, khiến cho chúng con, duyên chướng trong ngoài, thảy đều dứt sạch, mình, người, hạnh nguyện, cùng được viên thành, mở tánh bản-tri, dẹp trừ ma-ngoại, ba nghiệp siêng cần, tu nhân tịnh-độ.

Nguyện cho chúng con, khi bỏ thân này, không vào đường khác, quyết được sanh về, thế giới Cực-Lạc của Phật Di Đà, rồi được thừa sự, Đại-Bi Quán Âm đủ các tổng-trì, rộng độ quần phẩm, đồng thoát khổ-luân, đều thành Phật-đạo.


ng lên chp tay xướng)

 

Ð-t Sám-hi, phát-nguyn ri, chí-tâm đnh-l Tam-bo. (1 ly)   


Khể thủ tây phương An-Lạc quốc

Tiếp dn chúng-sanh đi đo sư

Ngã kim phát nguyện nguyn vãng sanh

Duy nguyện t-bi ai nhiếp th

Ngã kim phổ v t ân tam hu, cp pháp-gii chúng-sanh cư chư Pht, nht tha vô-thượng b đo-cchuyên tâm trì niệm A-Di-Ðà-Pht vn đc hng danh kỳ sanh tnh-đ. Duy nguyn T-Ph A-Di-Ðà Pht ai lân nhiếp th t-bi gia h.

A-Di-Ðà Phật thân kim sc

Tướng ho quang-minh vô đng luân,

Bạch hào uyn chuyn ngũ Tu-Di.

Hám mục trng thanh t đi hi,

Quang trung hóa Phật vô s c,

Hóa bồ-tát chúng dic vô-biên,

Tứ thp bát nguyn đ chúng-sanh

Cửu phm hàm linh đăng b ngn.


NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ PHÁP GIỚI TNG THÂN A DI ĐÀ PHẬT.

       

  (Kế tiếp, Kinh Hành Niệm Pht  

hay Ngồi kiết già hoc bán già nim Pht)

 

NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

 

(108 x 10 = 1080 câu trở lên)

 

Lúc xướng ch A 

 

KINH: Lúc xướng ch A, thời nhp bát nhã ba la mt môn tên là Bồ Tát oai lc nhp vô sai bit cnh gii.)

 

( Chuyên tụng Vô Lượng Th Như Lai Đà Ra Ni cũng được vãng sanh, nhưng vì câu chân ngôn dài khó nhiếtâm hơn sáu ch hng danh, nên sau khi trì chú li tiếp nim Pht.

          Về cách trì nim, Bút-gi li phi hp vi môn Thin ca Ngài Trí Gi, khiến cho Thin, Tnh được dung hòa. Pháp thc này chia thành bn giai đon đi t cn đến sâu:

 

1 – Ký số niệm: Hành giả ly mười câu làm mt đơn v, nim xong 10 câu ln mt ht chui. Người hơi dài có th nim sut. Như hơi ngn thì chia làm hai đon, mi đon 5 câu. Cn phi nim rành r rõ ràng, nhiếp tâm lng nghe, ghi nh t 1 đến 10 câu. Vì còn s ghi nh y, nên gi là ký s.

 

2 – Chứng s nim: Khi niệm đã thun, thì không cn ghi nh t 1 đến 10. Nim đ mười câu, lin t biết mt cách hn nhiên. Đó gi là chng s. Lúc này tâm hành gi được t ti hơn. Ý nim càng chuyên nht.

 

3 –Chỉ quán nim: Lúc mới nim, dt tt c tư tưởng phin tp, duy yên tĩnh lng nghe, gi là Ch. Khi yên tĩnh đã lâu, tâm mun hôn trm, lin khi ý nim Pht tha thiết, ta như con sa vào vòng ti kh, gi cha m cu vt.  S khi ý tưởng đến Pht đó, gi là Quán. Hai cách nầy c thay đi ln nhau, tán lon dùng phép Ch, hôn trm dùng phép Quán.

 

4 – Tịch tĩnh nim: Khi Chỉ Quán đã thun, hôn trm tán lon tiêu tan, hành gi lin mt nim buông b tt c. Lúc y trong quên thân tâm, ngoài quên thế gii, đo lý diu huyền cũng xả, cho đến cái không cũng tr. By gi tâm nim vng lng sáng sut, ch còn hn nhiên mt câu nim Pht mà thôi. Đến Giai-đon ny Tnh tc là Thin, có nim đng vi không nim, tm mnh danh là Tch tĩnh nim.

 

          Pháp thức nim trên đây, sau nhiều năm b chướng ngi trong lúc hành trì, Bút-gi đã suy tư nghiên cu, vch ra mt đường li đ áp dng riêng cho mình. Nay cũng mong nó đem li ích li cho hàng liên hu.)



3.- PHẦN PHÁT NGUYN HI HƯỚNG

 

(Sau khi trì danh đủ s, đến quỳ trước bàn Pht, chp tay nim)

 

Nam mô A-Di Ðà Phật (niệm mau 10 hơi)

Nam mô Ðại bi Quán-Thế-Âm B-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Thế-Chí B-tát (3 câu)

Nam mô Ðại-Nguyn Ða-Tng-vương B-tát (3 câu)

Nam mô Thanh-tịnh Ði-hi-chúng B-tát (3 câu)

 

(Vẫn quỳ, chí tâm đc bài k phát nguyn hi hướng)

 

Đệ t chúng con, hin là phàm phu, trong vòng sanh tử, ti chướng sâu nng, luân chuyn sáu đường, kh không nói được. Nay gp tri thc, được nghe danh hiu, bn nguyn công đc, ca Pht Di Đà, mt lòng xưng nim, cu nguyn vãng sanh. Nguyn Pht t bi, xót thương chng b, phóng quang nhiếp th. Đ t chúng con, chưa biết thân Pht, tướng tt quang minh, nguyn Pht th hin, cho con được thy. Li thy tướng mu, Quán Âm Thế Chí, các chúng B Tát và thế gii kia, thanh tnh trang nghiêm, v đp quang minh, xin đu thy rõ.

 

Con nguyện lâm chung không chướng ngi,
A Di Đà đ
ến rước t xa.
Quán Âm cam l
 rưới nơi đu
Th
ế Chí kim đài trao đ gót.
Trong m
t sát na lìa ngũ trược,
Kho
ng tay co dui đến liên trì.
Khi hoa sen n
 thy T Tôn
Nghe ti
ếng pháp sâu lòng sáng t.
Nghe xong li
n CHỨNG Vô Sanh Nhn,
Không rời An Dưỡng li Ta Bà.
Khéo đem phươ
ng tin li qun sanh
Hay l
y trn lao làm Pht s,
Con nguy
n như thế Pht chng tri.
K
ết cuc v sau được thành tu.

         

          ( Bài kệ trên tuy đơn gin, song đầy đ tt c ý nghĩa. Hành giả có th đc nguyn văn khác mà mình ưa thích, nhưng phi đúng vi ý nghĩa phát nguyn hi hướng. Xong đứng lên xướng)

 


NHỨT TÂM QUY MẠNG  ÐẢNH LỄ: Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư PHÁP GIỚI TẠNG THÂN A-Di-Ðà Như-Lai biến pháp giới Tam bảo (1 lạy)






NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 


    Hoa-Tạng Giáo-Chủ Tỳ-Lô-Giá-Na Phật Biến Pháp-giới Tam-Bảo (1 lạy)






NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 


 Thiên Thủ Thiên Nhãn 

Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma ha tát (1 lạy)






NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 


    Hộ-Pháp Vi-Đà Tôn-Thiên  Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (1 lạy)







NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ: 


         Phương Liên Tịnh Xứ Mật-Tịnh đạo tràng, TRÚC LIÊN BỔN THẤT, CỐ HÒA THƯỢNG TỔ SƯ, Thích Thượng Thiền hạ Tâm thùy từ minh chứng (1 lạy)

 

Tự qui y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm (1 lạy)

Tự qui y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải (1 lạy)

Tự qui y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại (1 lạy)



CHUNG



  


KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI

NHỨT THIẾT NHƯ LAI DANH HIỆU ĐÀ RA NI

MAHAKARUNA DHARANI ĐẠI-BI-TÂM ĐÀ-RA-NI

HOA NGHIÊM 42 TỰ MẪU

53 THIỆN TRI THỨC


( Này thiện nam tử ! Nếu muốn thành tựu Nhứt thiết chủng trí thời phải quyết định cầu chân thiện tri thức.

PHƯƠNG NAM này có 53 THIỆN TRI THỨC :

 

1.- TỲ KHEO ÐỨC VÂN

 

 

Này thiện nam tử ! Ta chỉ được pháp môn 

 "ỨC NIỆM NHỨT THIẾT CHƯ PHẬT CẢNH GIỚI TRÍ HUỆ QUANG MINH PHỔ KIẾN" này thôi. 

 

53.- PHỔ HIỀN ĐẠI BỒ TÁT

 

dạy THIỆN TÀI về “ 10 HẠNH NGUYỆN”

để thành tựu PHỔ HIỀN HẠNH và NHẬP PHÁP GIỚI được viên mãn.)






ẨN TU NGẪU VỊNH





25.-Ẩn tu lại thấy ở am mây

Lâu trượng Tay cầm kiếm qủy thần

Mật phái Lạt-ma y mão lạ

Quê xưa trúc tạng tợ xa gần. 



25. MA RA MA RA

MARA MARA


HiNhư-ý-châu-th-nhãn, tăng trưởng tt c s va ý.




NGÀI BẠCH Y BỒ TÁT



Đây là Bch-Y B-tát tay cm cây Như-Ý (thuc v Pht-ng). 


Hỗ tương miễn lệ Hỗ tinh tấn

Đồng tu Thiện pháp tục tâm ấn

Tha nhật thành tựu Bồ-đề quả

Long hoa Hội thượng khánh hoan hân.


MA RA MA RA. Câu chú này, Hán dịch là “tăng trưởng”. Cũng có nghĩa là “như ý” hoặc “tuỳ ý”. Đó là công năng của Như ý Châu thủ nhãn, làm tăng trưởng phước huệ, làm cho mọi việc đều được tốt lành như ý.

“Như ý” nghĩa là tuỳ thuận với tâm nguyện mà được đáp ứng.

Quý vị có thấy lợi ích vô biên của ấn pháp này không? Vì vậy nên công năng ấn pháp này là thứ nhất trong bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Diệu dụng của Như ý Châu thủ nhãn vượt ngoài sự diễn tả bằng ngôn ngữ.

Nếu Quý vị muốn giàu có, hãy hành trì theo thủ nhãn ấn pháp này. Một khi đã thành tựu rồi, thì Quý vị sẽ có được mọi thứ và không còn bận tâm vì nghèo khổ nữa. Quý vị luôn luôn giàu có và được vô lượng phước lạc.





Nếu Chúng-sanh nào muốn được giàu lớn, có nhiều thứ châu báu đồ dùng, nên cầu nơi Tay cầm Châu-Như-Ý.





Thanh hương bảo đnh Hóa tam thiên 

Như ý Kim ngao du cửu uyên 

Thiện-tài Long-nữ Tiếu huyên huyên 

Phật giáo Diệu pháp nhữ yếu tham.


Ma Ra Ma Ra [25]

Án-- phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra.

UM! BÚT RUM!  HÙM!




UM! BÚT RUM!  HÙM!

(AUM ! BHRUM, HŪM.)


Câu: “UM! BÚT RUM!  HÙM!” là chân ngôn “Nhứt Tự chuyển luân”, như bánh xe nâng đỡ, khi phối hợp vào, có công năng làm cho các chơn ngôn khác mau kiến hiệu và thành tựu. 


( Chữ  HÙM! Hồng” có nghĩa là “xuất sanh” —tất cả mọi thứ đều có thể được sanh ra từ chữ HÙM! “Hồng” nầy. Lại có nghĩa là “ủng hộ” —niệm chữ nầy thì liền cảm ứng chư hộ pháp thiện thần đến trợ giúp, che chở cho quý vị. Lại còn có nghĩa là “tiêu tai” —quý vị có tai nạn gì, tụng chữ nầy liền được tai qua nạn khỏi. Lại cũng có nghĩa là “thành tựu” —bất luận quý vị cầu nguyện điều gì, đều có thể được thành tựu như ý.

 

Án Ma Ni Bát Di Hồng

( OM MANI PADME HUM)

Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa Thượng Nhân giảng vào năm 1971)





MỤC LỤC

 

1.- Ẩn tu nào phải cố xa đời !

6.- Ẩn tu bền chí giữ công phu

11.- Ẩn tu cửa đạo trải bao năm

16.- Ẩn tu nghĩ muốn thoát dòng mê !

21.-Ẩn tu Không có, Có mà Không !

26.-Ẩn tu được biết kiếp lâu xa

31.-Ẩn tu niệm dứt tướng vào ra

36.-Ẩn tu thôi mặc dở hay đời

41.-Ẩn tu chợt nhớ Hổ Khê xưa !

46.-Ẩn tu lòng đạo sáng gương rằm

51.-Ẩn tu ngẫm diệu đạo Liên trì

56.- Ẩn tu xót kẻ học Như Lai

61.-Ẩn tu tục lụy thấy muôn mầu

66.-Ẩn tu quyết chí gạt trần tình

71.-Ẩn tu tìm hỏi truyện Tây Thi

76.-Ẩn tu đã có luỹ non mây

81.-Ẩn tu đàn suối cạnh triền non

86.-Ẩn tu xót cảnh đạo đời suy

91.-Ẩn tu khuyên khắp sớm hồi đầu

96.-Ẩn tu tâm PHẬT hội Tào Khê



BÀI SỐ 100

 

Ẩn tu tổng-yếu Tịnh môn mầu

Bí quyết đừng xa nghĩ ngợi cầu

THANH TỊNH CHÍ THÀNH trong mấy điểm

LỰC HÀNH, NGUYỆN THIẾT với TIN SÂU.

 

NHƯ Ý : 3 Điểm TÍN-NGUYỆN-HẠNH với sự CHÍ-THÀNH tu trì là yếu ước của môn Tịnh-Độ, Tuy nói ít song nếu dẫn ra, thì Rộng-rãi Mầu-nhiệm Vô-cùng.

 

Đạo NHO bảo:

 

“Phóng Chi Tắc Di  Ư Lục Hiệp,

Quyện Chi Tắc Thoái Tàng Ư Mật.”

(Buông ra thì Đầy-cả Đất-trời,

Thâu lại mất Không-còn Hình-tướng.)

 

 

Ý nầy đâu khác chi với Đạo-Phật.

 

Thưa các Vị,

 

Tám bài cuối xin miễn giảng giải, càng nói lại càng Sai lầm, SAI VỚI ĐẠO, bởi vì đây cũng là Ý sau rốt của người TU, Bút-giả  hiện chưa đi đến Địa-vị nầy như Chư Tăng Ni khác, vẫn mong sẽ đắc Ý trước khi VIÊN TỊCH. 



BÀI KỆ THỨ 101

 

Ẩn tu niệm niệm bút sanh hoa

Thi-tứ nguồn tâm một mạch ra

Danh-tự vị nguyên là Phật-nhãn

Non Tây rực rỡ dệt hồng hà.

 

BÀI KỆ THỨ 102

 

Ẩn tu trắc trắc, lại bình bình

Niệm đạt vô-tình lẫn hữu tình

Lầu tuyết rã tan ngàn thế giới

Chân trời pháp nhãn lộ bình-minh.

 

 BÀI KỆ THỨ 103

 

Ẩn tu niệm vỡ chụp pha-lê

Muôn ổn ngàn yên lặng khắp bề !

Riêng một bóng Tăng ngồi tĩnh-tọa

Lâm-viên vừa bặt tiếng sơn khê.

 

 BÀI KỆ THỨ 104

 

 

Ẩn tu sừng-sửng cội cây khô

Một ngón Thiên Long, dứt ý-đồ

Phật tử đến thăm như hỏi đạo

A Di Đà Phật lại NAM MÔ.

 

 BÀI KỆ THỨ 105

 

 

Ẩn tu nhơn cảnh chợt đều quên

Sáng-rỡ vầng-nga rọi trước thềm

Mùi đạo Lan-thanh riêng tự biết

Kêu mưa đã vắng giọng cưu đêm.

 

 BÀI KỆ THỨ 105

 

Ẩn tu suối lặng bóng chim qua

Chim nước đều như tự tại hoà

Di Lặc trao cho xem túi vải

Dưới trên đều rỗng, giọng kha kha !!!

 

 BÀI KỆ THỨ 107

 

 

Ẩn tu bên viện tiếng chuông dồn!

Sấm nổ Oai âm tỉnh mộng hồn

Chồn nhảy vào hang Sư tử chúa

Sư-Vương lại dạo dã hồ thôn.

 

 BÀI KỆ THỨ 108

 

Ẩn tu trì niệm tháng năm qua

Đạp lối Sen thanh trở lại NHÀ

Tin-tức ngày nay vừa thấy được

Tiếng chuông Sơn tự bóng trăng tà !

 

 

TỰ-CẢM

 


Sáu tám nhọc-nhằn kể xiết chi,
Thăng trầm nhiều nổi ch
í không di.
Mài giũa cho thành ra ngọc quý,
Mới hay châu nọ thiệt “Ma-ni”.
Một niệm công-thuần hai bốn chẵn,
Cõi tạm khứ-hồi mấy kẻ tri!
Khỉ đến, mèo kêu, ba chuột chạy,
Trần-duyên vĩnh dứt, đoạn sầu bi.


Sáu tám năm qua việc đáng kinh,
Thăng-trầm vùi-dập, lắm tai-tinh.
Chẳng qua một giấc mơ dài ấy,
Mà kiếp phù-sinh tạm múa hình.
Hai bốn năm ròng chuyên NHỨT-NIỆM,
DI-ĐÀ sáu chữ phóng quang-minh.
Hôm qua tin-tức trời TÂY báo,
GIỜ MẸO MAI ĐÂY TẠ THẾ TÌNH.


Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.



TA ĐI ĐÂY – ĐẠI CHÚNG NÊN BẢO TRỌNG


 Ðại-sư hưởng thọ tuổi đời 68, tăng-lạp 48.




ẨN TU NGẪU VỊNH



TRĂNG in NƯỚC bích LÒNG THIỀN rạng,

GIÓ LỘNG non hồng Ý ĐẠO thanh.

 

Nương mình tựa án xem NGƯỜI CỔ,

ẨN BÓNG trong gương ngẫm chuyện đời.



Vào  đêm RẰM, ngày 15/5/1989 Âm lịch (nhằm ngày KỶ DẬU, tháng CANH  NGỌ, năm KỶ TỴ), sau thời khóa, HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM bỗng ngẫu cảm viết luôn một mạch 108 BÀI VỊNH, mỗi bài 4 câu, trong ấy nói lược qua thời gian NHẬP THẤT trải qua, lấy đề mục là  ẨN TU NGẪU VỊNH. 

 

 

HÒA THƯỢNG TÔN SƯ

Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư  Thích Thiền-Tâm, hiệu Vô-Nhất.

 

 

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 

 

Kính thưa Quý-vị !

 

Cách đây ít lâu, một hôm tôi sang vấn an sức khỏe thầy tôi bảo, đêm RẰM vừa rồi sau thời khóa, THẦY bỗng ngẫu cảm viết luôn một mạch 108 BÀI VỊNH, mỗi bài 4 câu, trong ấy nói lược qua thời gian NHẬP THẤT trải qua, lấy đề mục là  ẨN TU.

Sau đó, thầy có chỉnh đốn lại đôi chút, nay nhân tiện đọc cho con nghe. Sau khi nghe xong, tôi xin phép ghi lại và muốn chuyển đọc cho các phật tử đến thăm nghe biết.

 

Thầy dạy: “ Điều ấy không nên vì người tu trong một lúc nào đó Tâm Thanh tịnh, bỗng nảy ra nhiều ý kiến cao siêu mới lạ nhưng phải liền gạt bỏ qua, nếu cứ ghi nhớ ý kiến hay ấy, tất Thành ra SỞ TRI CHƯỚNG, bởi Chân-Tâm là thể VÔ TRI LINH TRI, tuy không biết mà biết tất cả hoặc ngay khi trong lúc tâm thanh tịnh đó, hành giả có thể viết ra cả ngàn bài tụng một cách dễ dàng, song nếu chấp lấy danh từ cứ ưa viết mãi trong TÔNG MÔN gọi là thiền bịnh, giả lại cảnh giới người tu chỉ có người tu mới thấu đáo.”

 

 Nên Thiền Quyển có câu:

 

“Gặp hàng kiếm khách nên trình kiếm,

chẳng phải thi nhân chứ nói thi.”

 

 Nếu con đọc ra, sợ e kẻ nói một đằng người nghĩ một nẻo, rồi thành ra việc thị phi mà thôi. Tôi thưa, con thấy trong QUY NGUYÊN TRỰC CHỈ ngài TÔNG BẢN khi ẩn trong núi có vịnh 100 bài thi gọi là “SƠN CƯ BÁCH VỊNH” việc ấy như thế nào?”

 Thầy tôi đáp:  So sánh sao được với TÔNG BẢN ĐẠI SƯ, ngài là một bậc đại ngộ đã vượt con đường muôn dặm về đến quê nhà, còn thầy thì chỉ mới tập tễnh đi một vài bước. Ngài ví như người sáng mắt thấy toàn thể con HƯƠNG TƯỢNG, còn thầy ví như người mù rờ VOI, nói ra dẽ lạc lầm.

 

 Câu chuyện đến đó rồi cũng tạm trôi qua, tuy nhiên có 5 , 3 PHẬT TỬ đến viếng thăm Than Thở Đã lâu lắm rồi không gặp mặt HÒA THƯỢNG, lại không nghe được lời nhắc nhở,  trong tình thế đáng thương ấy, tôi có lén thầy trích đọc ra một vài đoạn, để an ủi họ.

 Nay gần tới ngày CHUNG THẤT của THÂN MẪU bổn sư, tôi lại cố gắng một lần thứ ba xin thưa thêm. Bạch thầy: Thầy nói cuộc đời của thầy là ẨN TU, ít hôm nữa là đến ngày chung thất cũng là ngày cuối cùng làm LỄ TRUY TIẾN bà về cõi Phật, con xin phép đọc mấy bài hôm trước cũng như thay lời tâm sự để GIÁC LINH bà thông cảm cảnh đời ẨN TU của thầy.

 

Thầy im lặng ý không muốn chấp nhận, nhưng cũng không nỡ Phủ Nhận lời xin của hàng đệ tử đã vì thân mẫu mình.

 

Tôi nghĩ thầy im lặng tức là tùy ý tùy duyên, nên hôm nay là cơ cảm để thầy có dịp tâm sự với Mẫu-Thân một lần sau rốt. Và đây xin đọc bài thứ nhất.

 

Tỳ-kheo-ni thích nữ PHƯƠNG LIÊN




Chúc ĐẠI CHÚNG năm mới 2024 :

 

1.  BỒ ĐỀ TÂM kiên cố,

2. Mau thành NHỨT THIẾT CHỦNG TRÍ.



MỤC LỤC

42 THỦ NHÃN ẤN PHÁP


Tuần Thứ 1. Như-Ý-Châu Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 2. Quyến-Sách Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 3. Bảo-Bát Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 4. Bảo-Kiếm Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 5. Bạt-Chiết-La Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 6. Kim-Cang-Xử Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 7. Thí-Vô-Úy Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 8. Nhật-Tinh-Ma-Ni Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 9. Nguyệt-Tinh Ma-Ni Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 10. Bảo-Cung Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 11. Bảo-Tiễn Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 12. Dương-Chi Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 13. Bạch-Phất Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 14. Hồ-Bình Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 15. Bàng-Bài Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 16. Phủ-Việt Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 17. Ngọc-Hoàn Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 18. Bạch-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 19. Thanh-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 20. Bảo-Cảnh Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 21. Tử-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 22. Bảo-Kiếp Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 23. Ngũ-Sắc-Vân Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 24. Quân-Trì Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 25. Hồng-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 26. Bảo-Kích Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 27. Bảo-Loa Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 28. Độc-Lâu-Trượng Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 29. Sổ-Châu Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 30. Bảo-Đạc Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 31. Bảo-Ấn Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 32. Cu-Thi-Thiết-Câu Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 33. Tích-Trượng Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 34. Hiệp-Chưởng Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 35. Chưởng-Thượng Hóa-Phật Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 36. Hóa-Cung-Điện Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 37. Bảo-Kinh Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 38. Bất-Thối-Kim-Luân Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 39. Đảnh-Thượng Hóa-Phật Thủ Nhãn ấn pháp

Tuần Thứ 40. Bồ-Đào Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 41. Cam-Lộ Thủ Nhãn Ấn Pháp

Tuần Thứ 42. Tổng-Nhiếp-Thiên-Tý Thủ Nhãn Ấn Pháp


PHẬT ĐẢNH QUANG TỤ CỨU CÁNH KIÊN CỐ 

ĐẠI BẠCH TÁN CÁI THẦN CHÚ






TAM VÔ LẬU HỌC

 

Thu nhiếp tâm ý gọi là GIỚI, nhân giới phát ĐỊNH lực, nhân định có trí HUỆ.

Nếu có tập khí các đời trước không thể diệt trừ, 

ông dạy người đó nên nhất tâm tụng thần chú của ta:

 

PHẬT ĐẢNH QUANG TỤ

MA HA TẤT ĐÁT ĐA BÁT ĐÁT RA

THỦ LĂNG NGHIÊM THẦN CHÚ

 



MA HA TẤT ĐÁT ĐA BÁT ĐÁT RA

ĐÀ RA NI CHÚ




ĐÁC ĐIỆC THA.


ÁN, A NA LỆ, TỲ XÁ ĐỀ, BỆ RA, BẠT XÀ-RA, ĐÀ RỊ, BÀN ĐÀ BÀN ĐÀ NỂ, BẠT XÀ-RA BÁN NI PHẤN. HỔ HỒNG ĐÔ LÔ UNG PHẤN, TA BÀ-HA.



THỜI KINH KHUYA

THỜI KINH CHIỀU




KINH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN

VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ÐÀ RA NI


PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG

ĐÀ RA NI

NGHI   THỨC   HÀNH   TRÌ



Nam-Mô Hộ-Pháp Vi- Đà Tôn-Thiên  Bồ-Tát Ma-Ha-Tát 


HỘ PHÁP CHƠN NGÔN

 

Nam-mô Su sít đi Ta ri Ta ri, 

Măng đa Măng đa, Xóa-ha.


Comments

Popular posts from this blog