NGÀY 17 THÁNG 11 ÂM-LỊCH
VÍA PHẬT-A-DI-ĐÀ
V ĨNH MINH DIÊN THỌ ĐẠI SƯ
(Liên Tông Lục Tổ)
V ĩnh Minh Diên Thọ Đại sư, tự Xung Huyền, người đời Tống, con của họ Vương ở Tiền Đường. Lúc thiếu thời, ngài thích tụng kinh Pháp Hoa, cảm đến bầy dê quỳ mọp nghe kinh.
Lớn lên, Xung Huyền được Văn Mục Vương tuyển dụng, cho làm quan trông nom về thuế vụ. Nhiều lần ngài lấy tiền công qũy đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh. Việc phát giác ra, bị Pháp ty thẩm định, xử ngài vào tội tử hình. Lúc sắp đem đi chém, Văn Mục Vương bí mật cho người rình xem, nếu thấy ngài nhan sắc thản nhiên, không tỏ về buồn rầu lo sợ, thì phải đem về trình lại. Thấy ngài trước sau vẫn an điềm. Sứ giả trao sắc chỉ cho quan Giám trảm, rồi dẫn về diện kiến vua. Khi Vương hỏi duyên cớ, ngài đáp: “Tôi tự dụng của công, đáng tội chết. Nhưng toàn số tiền đó, tôi dùng mua cứu được muôn ức sanh mạng, thì dù thân này có chết, cũng được vãng sanh về cõi Liên Bang, vì thế nên tôi không lo sợ”. Văn Mục Vương nghe qua cảm động, ra lịnh tha bổng. Ngài xin xuất gia, Vương bằng lòng.
Sau đó, ngài đến quy đầu với Thúy Nham thiền sư ở Tứ Minh. Kế lại tham học với Thiều Quốc Sư ở Thiên Thai, tỏ ngộ tâm yếu, được Quốc sư ấn khả, ngài từng tu Pháp Hoa Sám ở chùa Quốc Thanh. Trong lúc thiền quán thấy đức Quán Thế Âm Bồ Tát rưới nước cam lồ vào miệng, từ đó được biện tài vô ngại. Do túc nguyện muốn chuyên chủ về Thiền hoặc Tịnh mà chưa quyết định, ngài đến thiền viện của Trí Giả đại sư, làm hai lá thăm: một lá đề Nhất tâm Thiền định, còn lá kia là: Trang nghiêm Tịnh độ. Kế lại chí tâm đảnh lễ Tam Bảo sám hối, cầu xin gia bị. Đến khi rút thăm, luôn bảy lần đều nhằm lá Trang Nghiêm Tịnh Độ. Từ đây ngài nhất ý tu về Tịnh nghiệp.
Năm Kiến Long thứ hai đời Tống. Trung Ý Vương thỉnh ngài trụ trì chùa Vĩnh Minh, tôn hiệu là Trí Giác thiền sư. Ngài ở đây trước sau mười lăm năm, độ được một ngàn bảy trăm vị Tăng. Đại sư lập công khóa, mỗi ngày đêm hành trì một trăm lẻ tám điều và hai điều đặc biệt trong đó, là tụng một bộ kinh Pháp Hoa, niệm mười muôn câu Phật hiệu. Ban đêm khi ngài qua gộp núi khác niệm Phật, những người ở gần nghe tiếng loa pháp cùng thiên nhạc trầm bổng du dượng. Về kinh Pháp Hoa, trọn đời ngài tụng được một muôn ba ngàn bộ. Đại sư thường truyền giới Bồ Tát, mua chim cá phóng sanh, thí thức cho qủi thần, tất cả công đức đều hồi hướng về Tịnh độ. Ngài có trứ tác một trăm quyển Tông Cảnh Lục, hội chỉ thú dị đồng của ba tông: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Duy Thức.
Đại sư lại soạn ra tập Vạn Thiện Đồng Quy. Trong đây lời lẽ chỉ dạy về Tịnh độ rất thiết yếu, đại lược như sau:
Hỏi: –Cảnh duy tâm Tịnh độ đầy khắp mười phương, sao không hướng nhập, mà lại khởi lòng thủ xả, cầu về Cực Lạc gởi chất ở đài sen. Như thế đâu hợp với lý vô sanh, và đã có tâm chán uế ưa tịnh thì đâu thành bình đẳng?
Đáp:- Sanh duy tâm Tịnh độ là phần của các bậc đã liễu ngộ tự tâm, chứng được pháp thân vô tướng. Tuy nhiên, theo kinh Như Lai Bất Từ Nghị Cảnh Giới, thì những bậc chứng Sơ địa vào Duy tâm độ, cũng nguyện xả thân để mau sanh về Cực Lạc. Thế thì biết ngoài tâm không pháp, cảnh Cực Lạc đâu ngoài Duy Tâm? Còn về Phần “Lý vô sanh mà môn bình đẳng” tuy lý thuyết là như thế, nhưng kẻ lực lượng chưa đủ, trí cạn tâm thô, tập nhiễm nặng, lại gặp cảnh trần lôi cuốn mạnh mẽ, dễ gì mà chứng nhập được. Những kẻ ấy cần phải cầu sanh Cực Lạc, nhờ cảnh duyên thắng diệu ở đó, mới mau chứng vào Tịnh độ duy tâm và thực hành Bồ Tát.
Thập Nghi Luận cũng nói: “Bậc trí tuy liễu vô sanh, song vẫn hăng hái cầu về Tịnh độ, vì thấu suốt sanh thể như huyễn không thể tìm được. Đó mới thật là chân vô sanh. Còn kẻ ngu không hiểu lý ấy, bị nghĩa sanh ràng buộc nghe nói sanh thì nghĩ rằng thật có tướng sanh, nghe nói vô sanh lại tưởng lầm là không sanh về đâu cả. Do đó, họ mới khởi niệm thị phi chê bai lẫn nhau gây thành nghiệp tà kiến báng pháp. Đáng thương thay!
Hỏi:- Kinh luận nói: “Ngoài tâm không pháp, Phật không khứ lai”. Nhưng sao người tu Tịnh độ lại thấy Thánh tướng và việc Phật đến rước là như thế nào?
Đáp:- Kinh Bát Chu nói: “Như người nằm mơ thấy bảy thứ báu, hàng thân thuộc đều cùng vui mừng. Đến lúc thức tỉnh nghĩ lại, chẳng biết cảnh sang giàu ấy ở đâu? Sự việc niệm Phật cũng như vậy”. Thế thì biết các cảnh đều như huyễn, do duy tâm hiện, tức có mà không, tuy hiện tướng khứ lai song thật không có đến đi. Cho nên, thánh cảnh tuy như huyễn, song chẳng phải không có huyễn tướng, việc đến đi tuy không thật, song chẳng ngại gì có tướng khứ lai. Đó là lý trung đạo. Huyễn sắc tức chân không chính huyễn sắc, có và không đều vô ngại. Tất cả sự và cảnh chúng sanh đang sống ở thế gian này, cũng đều như thế.
Thật ra, chân cảnh của duy tâm, không có đông tây cùng phương hướng, không có đến đi qua lại, cũng không có một pháp nào ngoài tâm. Nhưng với bậc đã dứt trừ nghiệp hoặc, chứng vô sanh nhẫn, vào thật tướng của pháp thân, mới dám đương sánh huyền lý trên đây. Còn hàng sơ tâm mới tu, chớ nên lầm tự nhận.
Hỏi:- Theo Quán kinh thì phải nhiếp tâm vào định, quán y báo chánh báo cõi Cực lạc rõ ràng, mới có thể về Tịnh độ. Tại sao kẻ chưa vào định, tu môn Trì danh cũng được vãng sanh?
Đáp:- Chín phẩm sen ở Cực lạc gồm nhiếp tất cả công hạnh thấp cao, song không ngoài hai điểm: Định tâm và Chuyên Tâm.
1. Định tâm hay định thiện, là những vị tu tập quán pháp thành công, hoặc trì danh hiệu được vào tam muội. Các vị này sẽ sanh về thượng phẩm.
2. Chuyên tâm hay tán thiện, là những người chỉ niệm danh hiệu chưa được vào tam muội, hoặc tu các công đức lành khác trợ giúp, rồi phát nguyện hồi hướng. Hạng người này cũng được dự vào các phẩm thấp hơn. Nhưng cần phải trọn đời quy mạng Tây phương và chuyên cần tu tập. Lúc ngồi nằm thường xây mặt về Tây phương. Khi niệm Phật, lúc phát nguyện, phải chí thành không xao lãng. Tâm niệm khẩn thiết ấy ví như kẻ bị gông xiềng tù ngục cầu mau thoát ly; người lâm cảnh lửa cháy, nước trôi, hoặc giặc cướp rượt đuổi mong được thoát khỏi nạn. Lại phải vì sự sống chết, phát lòng Bồ đề, cầu sanh Tây Phương, mau thành Thánh đạo để đền đáp bốn ân, nối thạnh Tam Bảo, độ khắp muôn loài. Chí thành như thế, quyết chắc sẽ được kết qủa.
Trái lại, nếu lời và hạnh không hợp nhau, sức tín nguyện yếu kém, tâm không chuyên nhất, sự tu hành không tương tục thì khó hy vọng thành công. Bởi kẻ biếng trễ như thế e khi lâm chung bị nghiệp chướng trở ngăn, chẳng gặp bạn lành, lại thêm thân thể đau nhức, tâm thức hôn mê, không thành chánh niệm. Vì sao? Bởi hiện tại là nhân, khi lâm chung là qủa. Cần phải nhân cho chắc thật, qủa mới không hư luống, như tiếng hòa nhã thì vang dịu dàng, hình ngay tất bóng thẳng vậy. Nếu muốn khi sắp chết mười niệm thành công, thì ngay lúc hiện tại phải một lòng chí thiết tinh tấn tu hành, tất không còn điều chi lo ngại.
Đại khái, chúng sanh bởi tâm chia thiện ác, nên báo có khổ vui. Do nơi ba nghiệp tạo thành, mới khiến sáu đường luân chuyển. Nếu tâm sân hận, tà dâm, đó là nghiệp Địa ngục. Tâm tham lam, bỏn xẻn là nghiệp Ngạ qủy. Tâm ngu si, tà kiến là nghiệp Súc sanh. Tâm ngã mạn, tự cao là nghiệp Tu la. Giữ bền Ngũ giới, là nghiệp người. Tiến tu Thập Thiện là nghiệp Trời. Chứng ngộ nhân không, là nghiệp Duyên giác. Tu trọn Lục độ, là nghiệp Bồ Tát. Chân từ bình đẳng là nghiệp Phật.
Nếu tâm thanh tịnh niệm Phật, thì hóa sanh về Tịnh độ, ở nơi bảo các hương đài. Như ý mê tối đục nhơ, tất bởi chất cõi uế bang, nương cảnh nổng gò hầm hố. Cho nên lìa được tự tâm không còn biệt thể, muốn được qủa tịnh, phải chủng nhân mầu. Như tánh nước chảy xuống, tánh lửa bốc lên, lý thế tất nhiên, có chi mà ngờ vực!
Đại sư lại vì người đương thời còn phân vân giữa Thiền và Tịnh, chưa biết tu môn nào được kết qủa chắc chắn, nên làm kệ Tứ Liệu Giản để so sánh sự lợi hại như sau:
– Có Thiền không Tịnh độ
Mười người, chín lạc lộ.
Ấm cảnh khi hiện ra
Chớp mắt đi theo nó.
– Không Thiền có Tịnh độ
Muôn tu muôn thoát khổ.
Vãng sanh thấy Di Đà
Lo gì chẳng khai ngộ?
– Có Thiền có Tịnh độ
Như thêm sừng mãnh hổ.
Hiện đời làm thầy người
Về sau thành Phật, Tổ.
– Không Thiền không Tịnh độ
Giường sắt, cột đồng lửa!
Muôn kiếp lại ngàn đời
Chẳng có nơi nương tựa.
Niện hiệu Khai Bảo thứ tám, ngày 26 tháng 2 vào buổi sáng sớm. Đại sư lên chánh điện đốt hướng lễ Phật. Lễ xong, ngài họp đại chúng lại dặn dò khuyên bảo, rồi ngồi kiết già trên pháp tòa mà thị tịch, thọ được bảy mươi hai tuổi.
Về sau, có vị Tăng từ Lâm Xuyên đến, trọn năm kinh hành lễ tháp của Đại sư. Có người hỏi duyên cớ, vị Tăng đáp: Năm trước tôi bị bịnh nặng, thần thức vào cõi u minh, thấy bên tả đại điện có thờ tượng một vị Hòa thượng. Minh Vương đang cung kính lễ bái tượng ấy. Tôi thưa hỏi nguyên do, mới biết đó là tượng V ĩnh Minh Diên Thọ thiền sư ở chùa Vĩnh Minh tại Hàng Châu. Ngài đã vãng sanh về phẩm Thượng thượng nơi cõi cực Lạc. Minh Vương trọng đức nên kính thờ”.
Theo truyện ký, vào thời Ngô Việt Vương, tại Hàng Châu có Hòa thượng Hành Tu, trụ trì chùa Pháp Tướng. Ngài vốn con nhà họ Trần ở Tuyền Nam, sanh ra có tướng lạ, hai tai dài chấm tới vai, đến bảy tuổi vẫn không nói. Một hôm có người đùa hỏi, ngài bỗng ứng tiếng đáp: “Nếu không gặp bậc tác gia, nói cho lắm chỉ xô phá lầu khói mà thôi!”.
Sau ngài xuất gia ở chùa Ngõa Quan tại Kim Lăng, tham phỏng với Tuyết Phong thiền sư, ngộ được tâm ấn. Từ đó mãnh thú gặp ngài đều thuần thục, từng nổi tiếng là ông Tăng có nhiều sự phi thường, linh dị. Có một Đại đức hỏi: “Thế nào ý nghĩa của đôi tai dài?” Ngài không đáp, chỉ kéo dài hai tai mà biểu thị. Lại hỏi: “Chót núi phương Nam có khó đến chăng”?”. Ngài đáp: “Chỉ tại chưa từng đi đến”. Hỏi: “Sau khi đến rồi như thế nào?. Đáp: “Một mình nằm nghỉ đỉnh non cao”.
Ngô Việt Vương nhân khi đến chùa lễ Phật, có hỏi ngài Vĩnh Minh Diên Thọ: “Bạch tôn đức! Thời nay có bậc chân Tăng nào khác chăng?” Đại sư đáp: “Có Hòa thượng Hành Tu, đôi tai dài, chính là Phật Định Quang ứng thân đấy!”. Vương tìm đến ngài Hành Tu cung kính đảnh lễ, tôn xưng là Định Quang Như lai ra đời. Ngài bảo: “Vĩnh Minh Diên Thọ Đại sư thật khéo nhiều lời. Ông ta cũng chính là Phật A Di Đà ứng thân đó”. Nói xong, ngồi yên mà hóa. Ngô Việt Vương vội vã trở về chùa Vĩnh Minh định gạn hỏi hết, thì Đại sư cũng đã thị tịch.
Do đó, người đương thời truyền nhau: Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là Phật A Di Đà ứng hóa. Và hàng Tăng tục mới lấy ngày sanh nhật của Đại sư ngày 17 tháng 11 là lễ vía kỷ niệm Phật A Di Đà.
44.- Đồng-tử Thiện-tri-chúng-nghệ-học-bồ-tát-tự-trí
A ĐA BA GIẢ NA, LÃ ĐẢ BÀ ĐỒ SA, PHƯỢC ĐÁ
DÃ SẮT-TRA, CA TA MẠ GIÀ THA, XÃ TOẢ ĐÀ XA KHƯ,
XOA TA-ĐA NHƯƠNG HẠT-LÃ-ĐA, BÀ XA TA-MẠ HA-BÀ THA, GIÀ TRA NÃ
TA-PHÃ, TA-CA DÃ-TA THẤT SÁ ĐÀ.
UM! BÚT-RUM! HÙM!
( Tụng mỗi ngày ít nhất là 108
HOA NGHIÊM TỨ THẬP NHỊ TỰ MẪU trở lên)
HOA-NGHIÊM NGUYÊN-NHÂN LUẬN TỰ
華嚴原人論序
Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ
大毘盧遮那成佛經疏
Buddhism of Wisdom & Faith
letters from patriarch
Pure Land Buddhism
Dialogs with Ancient Masters
Hòa-Thượng Thích-Thiền-Tâm
THÁNG THIẾU [THÁNG ĐỦ]
NGÀY (15/11) ÂM LỊCH
3-1-2025 DƯƠNG LỊCH
THÁNG THIẾU [THÁNG ĐỦ]
NGÀY (30/11) ÂM LỊCH
18-1-2025 DƯƠNG LỊCH
THÁNG 11 NGÀY ÂM-LỊCH
17.- VÍA PHẬT-A-DI-ĐÀ
KINH ĐẠI BẢO TÍCH
THỨ 5. PHÁP HỘI VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI
21.- LỄ HÚY KỴ LẦN THỨ 33
CỐ ĐỨC TỔ SƯ THÍCH thượng THIỀN hạ TÂM
ΚΙΝΗ PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ RA NI
THÁNG 12 NGÀY ÂM-LỊCH
8.- VÍA PHẬT THÍCH-CA THÀNH ĐẠO
81 NGÀY TỤNG
ÐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:
Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ giải thiên kinh không dịch hình!
Vô lượng nghĩa tâm toàn thể lộ
Lưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.
VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm
TƯỞNG NIỆM
CỐ HÒA THƯỢNG THIỀN-TÂM
LẦN THỨ 33
(21-11-92 ÂL- 21-11-2025
ÂL)
Thứ Sáu, ngày 9/1/2026 Dl
NHỨT THIẾT NHƯ LAI DANH HIỆU ĐÀ RA NI
(Trước hết hành giả nên xướng lễ hồng danh chư Phật sau đây và sám hối):
NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ:
1. Bảo Sư Tử Tự Tại Như Lai.
2. Bảo Vân Như Lai.
3. Bảo Trang Nghiêm Tạng Như Lai.
4. Bảo Sư Tử Đại Vân Như Lai.
5. Vân Sư Tử Như Lai
6. Tu Di Như Lai
7. Sư Tử Hống Như Lai
8. Sư Tử Lợi Như Lai
9. Phạm Âm Như Lai
10. Thiện Ái Như Lai
11. Liên Hoa Thượng Như Lai
12. Nhiên Đăng Như Lai
13. Liên Hoa Sanh Như Lai
14. Tốn Na Ra Như Lai
15. Trì Hoa Như Lai
16. Trì Bảo Như Lai
17. Pháp Sanh Như Lai
18. Nhựt Quang Như Lai
19. Nhựt Chiếu Như Lai
20. Nguyệt Quang Như Lai
21. Vô Lượng Tạng Như Lai
22. Vô Lượng Trang Nghiêm Tạng Như Lai
23. Vô Lượng Quang Như Lai
24. Liên Hoa Tạng Nhu Lai.
25. Thiên Diệu Âm Như Lai.
26. Câu Chi La Đẳng Như Lai.
NHỨT TÂM QUY MẠNG LỄ:
Tận Hư Không biến pháp giới thập phương tam thiết chư Phật, tôn Pháp, Hiền, Thánh, Tăng, Thường trụ Tam bảo.
Đệ tử...... CHÍ THÀNH sám hối.
" Về trước con tạo những nghiệp ác,
Đều do vô thỉ tham, sân, si.
Từ thân, khẩu, ý, phát sanh ra.
Nay con xin sám hối tất cả… "
( 3 lần xướng 3 lần lạy )
NHỨT THIẾT NHƯ LAI DANH HIỆU ĐÀ RA NI
Um! Tát dá tha! Sát tua ra, Sít tê, Du rát ta, Suýt đa, Sa hạ, Sá ra ni. Rát ta, Va ra, Ma kuýt ta, Lanh khất ri ta, Đà ra ni Sóa-ha. (1)
Sạt rít va, Tát tha ga tá, Muýt trê ta, Đà ra ni Sóa-ha. (2)
A va lô kít tê, Soa va ray da Sóa ha. Sạt rít va, Tát tha ga tô, U sắc ni sá, Đà ra ni Sóa-ha. (3)
Sạt rít va, Tát tha ga ta, Vạ sít ta, Đạt mạ, Sấc cơ rít ta, Đà ra ni Sóa-ha. (4)
Sạt rít va, Tát tha ga tá, Vạ sít ta, Sá bát ta, Đà ra ni Sóa-ha. (5)
Bát đơ ma, A vạ ni Kay da Sóa ha. A sấc tra, Mạ hạ, Bay da, Đà ra ni Sóa-ha. (6)
Suýt đa, Vạ răng, Nay da Sóa ha Sạt rít va, Tát tha ga tá, Na ma, Đà ra ni Sóa-ha. (7)
A sít tê, Bát đơ ma, Suýt đê, Kay da, Tát tha ga tá, Đà ra ni Sóa-ha. (8)
Bát đơ ma, Hạ sít tay da Sóa ha. Sạt rít va, Manh tra, Đà ra ni Sóa-ha. (9)
UM! BÚT RUM! HÙM!
(108 biến trở lên)
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nói: "Nếu có người nghe được danh hiệu của chư Như lai nói trên và vì kẻ khác tuyên dương, kẻ đó trong sáu mươi ngàn kiếp còn không nghe tên ác đạo nữa, huống là đọa vào ác đạo. Nếu có người thọ trì Đà ra ni nầy, vì kẻ khác truyền nói, người ấy đã có nghiệp Ngũ-Vô-Gián thảy đều tiêu trừ. Sau khi mạng chung, kẻ đó được sanh lên làm Vua chư Thiên sống lâu tám mươi bốn trăm ngàn Cu chi số kiếp; kế tiếp được làm Chuyển Luân Thánh Vương sống sáu mươi Trung kiếp. Qua kiếp đó rồi, người ấy sẽ được thành Phật, hiệu Liên Hoa Tạng Như Lai.
THẬP-NHỊ NHƯ-LAI
DANH-HIỆU ĐÀ-RA-NI
Um! Sạt-va Ban-ba-tá, Vis-phô-tá, Na-ha-na Va-ji(ri)-ra-da, Xóa-ha.
Um! A-rô-lít, Xóa-ha.
(DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG CHƠN-NGÔN:
Án a lổ lặc kế ta bà ha.)
Um! Bơ-ra-ma-ni Đa-nin, Xóa-ha.
(DIỆT ĐỊNH NGHIỆP CHƠN-NGÔN:
Án bát ra mạt lân đà nãnh ta bà ha. )
Um! Kít-ta-bà-va, Sát-tê-ri Đê-ri Hùm. Kít-ta-ri Kít, Xóa-ha.
Um! Sát-ri-dà-da, Á-ri-a-ra-dà, Ma-ha Và-ti Tra-da Xóa-ha.
UM! BÚT-RUM! HÙM!
2. QUYẾN-SÁCH
Nếu bị các việc khuấy rối, muốn được an ổn, nên cầu nơi tay cầm Dây QUYẾN-SÁCH.
Chân ngôn rằng: Án-- chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
Nhược vị chủng chủng bất an cầu an ẩn giả, Đương ư QUYẾN-SÁCH thủ.
若為種種不安求安隱者,當於羂索手。
FOR SEEKING PEACE AND TRANQUILITY IN ALL UNRESTFUL SITUATIONS, USE THE LARIAT HAND.
2. Quyến-Sách Thủ Nhãn Ấn Pháp
Nếu muốn tất cả người trong quyến-thuộc được hòa thuận nhau, nên cầu nơi Tay cầm cái HỒ-BÌNH.
Chân-ngôn rằng: Án-- yết lệ, thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.
Nhược vị nhất thiết thiện hòa quyến thuộc giả, Đương ư HỒ-BÌNH thủ.
若為一切善和眷屬者,當於胡瓶手。
FOR WHOLESOME AND HARMONIOUS RETINUES, USE THE HU BOTTLE HAND.
Na Ra Cẩn Trì [49]
NILAKASTA (Ni-la-kanh-sí-ta)
Na Ra Cẩn Trì [60]
NILAKANTHI (Ni-la-kanh-thi)
Ta-bà ha [61]
Án-- yết lệ, thảm mãn diệm, tát-phạ hạ.
Giảng Sư
Hòa thượng THÍCH TRÍ TỊNH
10 GIỚI TRỌNG
1.- GIỚI SÁT SANH
2.- GIỚI TRỘM CƯỚP
3.- GIỚI DÂM (TẠI GIA: GIỚI TÀ DÂM )
4.- GIỚI VỌNG
5.- GIỚI BÁN RƯỢU
6.- GIỚI RAO LỖI CỦA TỨ CHÚNG
7.- GIỚI TỰ KHEN MÌNH CHÊ NGƯỜI
8.- GIỚI BỎN SẺN THÊM MẮNG ĐUỔI
9.- GIỚI GIẬN HỜN KHÔNG NGUÔI
10.- GIỚI HỦY BÁNG TAM BẢO
48 ĐIỀU GIỚI KHINH
1.- GIỚI KHÔNG KÍNH THẦY BẠN
2.- GIỚI UỐNG RƯỢU
3.- GIỚI ĂN THỊT
4.- GIỚI ĂN NGŨ TÂN
5.- GIỚI KHÔNG DẠY NGƯỜI SÁM TỘI
6.- GIỚI KHÔNG CÚNG DƯỜNG THỈNH PHÁP
7.- GIỚI KHÔNG ĐI NGHE PHÁP
8.- GIỚI CÓ TÂM TRÁI BỎ ĐẠI THỪA
9.- GIỚI KHÔNG KHÁN (SĂN SÓC NGƯỜI ) BỊNH
10.- GIỚI CHỨA KHÍ CỤ SÁT SANH
11.- GIỚI ĐI SỨ
12.- GIỚI BUÔN BÁN PHI PHÁP
13.- GIỚI HỦY BÁNG
14.- GIỚI PHÓNG HỎA
15.- GIỚI DẠY GIÁO LÝ NGOÀI ĐẠI THỪA
16.- GIỚI VÌ LỢI MÀ GIẢNG PHÁP LỘN LẠO
17.- GIỚI CẬY THẾ LỰC QUYÊN GÓP
18.- GIỚI KHÔNG THÔNG HIỂU MÀ LÀM THẦY TRUYỀN GIỚI
19.- GIỚI LƯỠNG THIỆT ( LƯỠI ĐÔI CHIỀU )
20.- GIỚI KHÔNG PHÓNG SANH
21.- GIỚI ĐEM SÂN BÁO SÂN, ĐEM ĐÁNH TRẢ ĐÁNH
22.- GIỚI KIÊU MẠN KHÔNG THỈNH PHÁP
23.- GIỚI KHINH NGẠO KHÔNG TẬN TÂM DẠY
24.- GIỚI KHÔNG TẬP HỌC ĐẠI THỪA
25.- GIỚI TRI CHÚNG VỤNG VỀ
26.- GIỚI RIÊNG THỌ LỢI DƯỠNG
27.- GIỚI THỌ BIỆT THỈNH
28.- GIỚI BIỆT THỈNH TĂNG
29.- GIỚI TÀ MẠNG NUÔI SỐNG
30.- GIỚI QUẢN LÝ CHO BẠCH Y
31.- GIỚI KHÔNG MUA CHUỘC
32.- GIỚI TỔN HẠI CHÚNG SANH
33.- GIỚI TÀ NGHIỆP GIÁC QUÁN
34.- GIỚI TẠM BỎ BỒ ĐỀ TÂM
35.- GIỚI KHÔNG PHÁT NGUYỆN
36.- GIỚI KHÔNG PHÁT THỆ
37.- GIỚI VÀO CHỖ HIỂM NẠN
38.- GIỚI TRÁI THỨ TỰ TÔN TY
39.- GIỚI KHÔNG TU PHƯỚC HUỆ
40.- GIỚI KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRUYỀN GIỚI
41.- GIỚI VÌ LỢI LÀM THẦY
42.- GIỚI VÌ NGƯỜI ÁC GIẢNG GIỚI
43.- GIỚI CỐ MỐNG TÂM PHẠM GIỚI
44.- GIỚI KHÔNG CÚNG DƯỜNG KINH LUẬT
45.- GIỚI KHÔNG GIÁO HÓA CHÚNG SANH
46.- GIỚI THUYẾT PHÁP KHÔNG ĐÚNG PHÁP
47.- GIỚI CHẾ HẠN PHI PHÁP
48.- GIỚI PHÁ DIỆT PHẬT PHÁP
VÔ NHẤT Thích Thiền-Tâm
Đời ta chí gởi chốn Liên-trì, (TÂY PHƯƠNG)
Trần thế vinh-hư sá kể gì.
Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,
Mừng nay được thấy đức A-DI.
THƯỢNG
TÂY PHƯƠNG
ẨN TU NGẪU VỊNH
BÀI SỐ 29
Ẩn tu gió mát tỏa gương nga
Tĩnh-thất cài then tụng Pháp-Hoa
Bừng sáng THÂN TÂM hoà ánh NGUYỆT
Tầm Dương bổng dứt hận TỲ-BÀ !
NHƯ Ý : Người Kỹ-Nữ Khải đàn tỳ bà trong đêm khuya, ngồi thuyền đưa khách ở bến Tầm Dương là cảnh thương tâm của một kiếp tài hoa lưu lạc, có thể mượn đây để ví dụ cho sự KHỔ luân hồi chìm nổi của chúng sanh, khi hành giả phiền vọng TẠM lắng yên, thân TÂM và cảnh GIỚI dung hòa trong ánh sáng giác ngộ, tất sự an vui được thể hiện đây là giai đoạn, THẤY bờ giải thoát DỨT hận Tỳ-bà.
BÀI SỐ 51
Ẩn tu ngẫm diệu đạo Liên trì
Căn tiểu thừa nghi chẳng lạ gì ?
Thượng đức năm ngàn Linh Thứu hội
Thành quân bại Bắc rút lui đi.
NHƯ Ý: Pháp Đại-thừa gọi là Giới ngoại Đại pháp, tức là pháp rộng lớn Nhiệm Mầu ngoài Phạm vi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, như cõi Cực-Lạc thuộc môn Tịnh-Độ, ở cách xa ngoài ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI TA BÀ, mười muôn ức Phật độ, chỉ có bậc đăng địa Bồ-Tát mới thấy biết mà tin nhận.
Đạo-nhãn của bậc A-la-hán thuộc Tiểu-thừa chỉ thấy biết cảnh sự trong vòng cõi tam thiên, nên có vị tuy đã chứng đệ Tứ-quả vẫn không công nhận cõi Cực Lạc.
Khi xưa Đức THẾ TÔN nói kinh Pháp Hoa trong hội Linh Sơn, 5.000 Thượng Đức Thanh-văn đã chứng từ Sơ-quả đến Tứ-quả, cho là mình đã đi đến mức cuối cùng, ngoài ngôi vị A-la-hán không còn chi cao hơn nữa, không tin lời Phật, nên lặng lẽ rút lui ra khỏi Pháp Hội, thế thì biết tin được pháp Đại thừa và môn Tịnh độ Duy chỉ có 2 hạng:
1) Bậc Pháp-thân Đại sĩ chứng nghiệm pháp sâu mầu,
thấy biết mười phương cõi.
2) Hàng phàm phu tuy chưa Đắc quả, song đã gieo Chủng Tử Đại Thừa và Tịnh Độ trong nhiều kiếp.
Vài mươi năm trước, chính Bút giả nghe một vị thượng tọa bảo: Kinh Hoa Nghiêm và Di Đà do mấy vị tổ bên Tàu viết ra, chứ không phải của Phật nói, rất lấy làm ngạc nhiên, nhưng hiện tại nhờ duyệt lãm nhiều kinh luận đã nhận xét kỹ càng, thì không còn lạ nữa.
|
TỤNG 8 NGÀY |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
1 NGÀY TỤNG
KINH
7 NGÀY TỤNG
KINH
DIỆU PHÁP LIÊN HOA
Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
MỤC LỤC
1. PHẨM “TỰA”
2. PHẨM “PHƯƠNG TIỆN”
3. PHẨM “THÍ DỤ”
4. PHẨM ‘TÍN GIẢI’
5. PHẨM “DƯỢC-THẢO-DỤ”
6. PHẨM “THỌ KÝ”
7. PHẨM “HÓA THÀNH DỤ”
8. PHẨM “NGŨ-BÁ ĐỆ-TỬ THỌ KÝ”
9. PHẨM ‘THỌ-HỌC VÔ- HỌC NHƠN-KÝ’
10. PHẨM “PHÁP SƯ”
11. PHẨM “HIỆN BẢO THÁP”
III.- PHẦN NGỘ PHẬT-TRI-KIẾN
12. PHẨM “ĐỀ-BÀ-ĐẠT-ĐA”
13. PHẨM “TRÌ”
14. PHẨM “AN LẠC HẠNH”
15. PHẨM “TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT”
16. PHẨM “NHƯ LAI THỌ LƯỢNG”
17. PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC”
18. PHẨM “TÙY-HỶ CÔNG-ĐỨC”
19. PHẨM “PHÁP-SƯ CÔNG-ĐỨC”
20. PHẨM “THƯỜNG-BẤT-KHINH BỒ-TÁT”
21. PHẨM “NHƯ-LAI THẦN-LỰC”
22. PHẨM “CHÚC LỤY”
23. PHẨM “DƯỢC-VƯƠNG BỔ-TÁT BỒN-SỰ”
24. PHẨM “DIỆU-ÂM BỔ-TÁT”
25. PHẨM “QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT PHỔ-MÔN”
26. PHẨM “ĐÀ-LA-NI”
27. PHẨM “DIỆU-TRANG-NGHIÊM-VƯƠNG BỒN-SỰ”
28. PHẨM “PHỒ-HIỀN BỔ-TÁT KHUYẾN-PHÁT”
Lúc Phật nói kinh này, Phổ-Hiền v.v... các vị Bồ-tát, Xá-Lợi-Phất v.v... các vị Thanh-Văn và hàng Trời, Rồng, nhân, phi-nhân v.v... tất cả đại-chúng đều rất vui thụ-trì lời Phật làm lễ mà đi.
KINH
DIỆU PHÁP LIÊN HOA
CHUNG
ẨN TU NGẪU VỊNH
BÀI SỐ 36
Ẩn tu thôi mặc dở hay đời
Chỉ ước lâm chung dự biết thời
Nương nguyện Phổ-Hiền sanh Cực-Lạc
Rồi dong thuyền độ khắp nơi nơi.
NHƯ Ý : Người Á đông, nhất là những người ở nước có Triết lý Tam-giáo, THÍCH ĐẠO NHO, khi đã chìm nổi nhiều với cuộc đời, thường có ý hướng về sự THOÁT tục; để tiêu biểu cho việc đó, XIN tạm dịch hai câu của Cao-Bá-Quát như sau : Việc thế nổi chìm xin chớ hỏi, trong xa khói sóng có ĐÀO NGUYÊN. Nguyên tác, “Thế sự thăng trầm Quân mạc vấn, Yên ba thâm Xứ Hữu Ngư châu.”
Cũng có vị khi đã ở trong cửa ĐẠO, nhưng xét thấy chúng sanh nghiệp NẶNG, mình lại CHƯA đủ khả năng tế độ; như CHÍNH mình còn bị trói KHÔNG thể mở trói cho người; Nên đành phải để sự XUẤT trần trước rồi mới NHẬP trần sau, đó là tâm sự của bà Công-chúa em gái vua Nhật-tôn: “Lên bờ cứu khổ mong quay lại, biển ái trong xa nước đục lờ.” Mấy câu này nói lên ý tưởng trên đây.
Lễ Quán Thế Âm Bồ Tát Thành Đạo
Ngày Âm Lịch: 19-6-2025
Ngày Dương Lịch: 12-8-2025
THÁNG 7 NGÀY ÂM-LỊCH
13.- VÍA ĐỨC ĐẠI-THẾ-CHÍ BỒ-TÁT
15.- LỂ VU-LAN BỒN
THÁNG 9 NGÀY ÂM-LỊCH
19.- VÍA ĐỨC QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT XUẤT-GIA
30.- VÍA PHẬT DƯỢC-SƯ














Comments
Post a Comment