TAM BẢO CẢM ỨNG YẾU LƯỢC LỤC



101.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TƯỢNG QUÁN ÂM, ĐỊA TẠNG



Trích lục: Tư Mạng Chi


Đời Đường, ở huyện Đức Dương, tại Hản Châu, có ngôi già-lam tên Thiện Tịch Tự. Nơi vách Đông lang của chùa này có treo hai bức tranh lụa, vẽ hình Bồ-tát Quán Âm và Địa Tạng theo tăng tưởng, ngồi kiết già. Những người chỉ thành đến chiêm lễ, thường thấy ánh sáng lạ từ họa tượng phát ra.


Đến niên hiệu Lân Đức năm đầu, một vị tăng trong chùa mô phỏng theo hai bức ấy vẽ lại trên lụa, thì tượng của Sư cũng phát ánh sáng chói lòa. Do đó, người đương thời đem lụa đến mô tả theo rất nhiều. Năm Lân Đức thứ ba, quan Thứ sử Vương Ký trước khi đến trấn nhậm ở Tư Châu, cũng chỉ thành tơi chua mô tả hai bức họa để cùng dương. Khi khơi nhâm đến Tư Châu đồng hành gồm mười chiếc thuyền to Giữa đường, sóng gió dữ nói lên, chin chiếc kia đều bị đâm, riêng thuyền của Vương Kỳ được thoát nạn. Đó là nhờ thuyền của ông có đem theo tượng hai vị Bồ-tát nên được sức từ bị gia hộ Đèn năm Thiên Hậu thứ hai. Thiên Hậu nghe chuyện lạ ấy, cho họa sư đến chúa mô tả, đem về nội cung cùng đường, cũng được ảnh sang lạ phát hiện, liên viết biểu tàu trình. Vua nghe chuyện ấy, ngư giả đến danh lễ và đọc bài kệ khen ngợi. Khi nào ánh sáng từ hai họa tượng đó chơi ra, tất năm ấy nước nhà được bình yên thịnh vượng. Đến sau, có vợ của một thương khách mang thai đã hai mươi tám tháng mà chưa sinh được. Có đem lụa đến chua phát nguyện mỗ tà hai bức tượng, bỏng thấy ánh sáng lạ phát ra. Đêm ấy, cô sinh được một bé trai dung mạo đẹp đề đoan nghiêm, mọi người trông thấy đều hoan hy khen ngợi.



102.- SỰ CẢM ỨNG KHI TẠO TƯỢNG ĐẠI THẾ CHÍ BỒ-TÁT


Trích lục: Tư Mạng Chỉ.


Cha của ông Lý Triệu Đài, người huyện Du ở Ung Châu, nhân hủy báng Phật pháp, mộng thấy thần quở trách, mang bệnh thổ huyết rồi chết. Triệu Đải kinh thành quy y Đại Thế Chí, niệm danh hiệu Phật, Bồ-tát cầu nguyện cho cha. Ông lại thuê thợ giỏi tạo kim thân đức Đại Thế Chỉ cao ba thước để cúng dường. Ngày khởi công, đất khắp nơi bỗng rung chuyển, nhiều người cho là cơn địa chấn, luận bàn tốt xấu phân vân. Hai tháng sau tượng thành, Triệu Đải mộng thấy một vị kim thân, đầu đội bảo quan, đến nói:


- Ta là Đại Thế Chí Bồ-tát. Ngươi có biết nguyên do cơn động đất hôm trước chăng? Đó là do ngươi phát nguyện tạo tượng, ta đến đây để chứng minh, khi đặt chân xuống thế giới này, cõi dại thiên rung rộng, chúng sinh trong đó đều được thoát khổ. Ta y theo môn niệm Phật chứng vào Vô sinh nhăn, nhếp thủ chúng sinh niệm Phật ở mười phương. Ngươi tạo tượng ta lại niệm Phật, nên ta đã cứu cha ngươi thoát khỏi địa ngục, đưa về Tịnh độ.


Lý Triệu Đải nghe nói, chắp tay chiêm ngưỡng Bồ-tát, vừa muốn cúi xuống đảnh lễ, bỗng giật mình thức giấc. Ông vừa vui mừng vừa cảm động, từ đó chuyên niệm Phật không biếng trễ.



103.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG ĐỊA TẠNG BỒ-TÁT


Trích lục: Tân Lục.


* Đời Đường, tại chùa Pháp Tự ở Ích Châu, có tượng về Địa Tạng Bồ-tát, ngồi nơi giường dây, buông thõng đôi chân, cao độ chín tấc. Tượng này nguyên của Trương Tăng Do họa, tượng rất đẹp.


Đến tháng bảy năm Lân Đức thứ hai, vị tăng ở chùa ấy phỏng theo nguyên họa, vẽ ra một bức khác. Vẽ xong, nơi viên quang của Thánh tượng ảnh chói sắc vàng, khi ẩn khi hiện. Nhiều người thấy thế, lần lượt mô tả, đều có ánh sáng chói ra. Tháng tám năm ấy, vua nghẹ chuyện lạ, sắc chỉ đem một bức vào cung để cúng dường.



* Lưu Thị Lang, người huyện Kim Thủy, nhân đến thăm nhà bạn quen, trên đường về lượm được một chiếc gậy. Lưu nhin kỹ, thấy đầu gậy có khắc chạm hinh, không biết là tượng gì, liền đem để nơi vách. Như thể trải qua nhiều năm, rồi quên bằng đi không nghĩ đến.


Sau, ông bị bạo bệnh tắt hơi, vì nơi ngực còn nóng nên người nhà chưa tẩn liệm. Qua một ngày hai đêm, Lưu chợt sống lại, gieo mình nơi đất hối lỗi tự trách. Người nhà hỏi, ông đáp:


- Khi tôi mới chết, có hai vị minh quan cỡi ngựa đến, dẫn tới một đền vua. Vị vương giả ngồi trên, giận dữ nhìn tôi quở trách. Bồng có một Sa-môn hình dáng thô sơ bước vào. Vương giả trông thấy liền cung kính rời khỏi tòa, đến trước quỳ xuống thưa rằng: “Bạch Đại sĩ! Có nhân duyên gì mà Ngài đến đây?”. Sa-môn đáp: “Người này là dản việt của ta, nay đến đây muốn cứu độ!”. Minh vương bạch: “Nghiệp duyên đã định, việc ấy sẽ xử như thế nào?". Sa-môn bảo: “Khi trước ta ở cung trời Đao-lợi, đã chịu lời ủy thác của đức Thế Tôn, nên nay phải cứu những chúng sinh nghiệp nặng". Minh vương thưa: “Đại sĩ nguyện rộng lớn, như núi Kim Cang bền chắc không lay động, tệ chức xin cung kính vâng lời”. Sa-môn hoan hỷ nắm tay tôi dắt đưa về đến nhà và bảo: “Ta là Địa Tạng Vương Bồ- tát. Khi trước giữa đường ngươi lượm được cây gậy có khắc hình tượng ta, nên nay ta hóa độ. Việc ấy ngươi còn nhớ chăng?”. Nói xong liền ẩn mất. Tôi nghĩ mình nông nổi thô sơ, mà vẫn được Bồ-tát xót thương cứu độ, nên mới tự hối trách!


Mọi người nghe nói đều than thờ lấy làm lạ. Lưu đến vách tìm cây gậy xem lại, thấy hình khắc Bồ-tát cao độ năm tấc, đầu có viên quang, giống tạc Sa-môn mình đã gặp. Ông đem thờ, và sửa nhà thành ngôi am, hiệu là Địa Tạng Viện.



104.- SỰ CẢM ỨNG CỦA PHÁP TƯỢNG NĂM VỊ BỒ-TÁT


Trích lục: Thiện Trúc Truyện.


Sau khi Phật diệt độ một ngàn ba trăm năm, nước Di Đế ở Ấn Độ bị trăm thứ quỷ vào làm loạn, khiến ôn dịch lưu hành, nhân dân đau bệnh chết vô số. Quốc vương hội các quan lại bàn rằng:


- Thuở xưa, đức Thế Tôn khi sắp nhập Niết-bàn, có dạy năm vị đại lực Bồ-tát ủng hộ nước ta. Nhưng từ các đấng tiên vương đến nay, Thánh giáo bị lãng quên, khiến cho trong nước chẳng yên, nhân dân nghèo khổ. Nay lại bị đại hạn này, không biết phải làm thế nào?


Một vị lão thần tâu:


- Muốn cho vận nước được vững bền, nhân dân khỏi tai họa, chỉ có cách tạo tượng năm vị đại lục Bồ-tát để cúng dường, và lập hội Nhân Vương Bát-nhã!


Vua và các quan đồng ý, liền cho gọi các thợ giỏi, chọn ngày mồng tám tháng giêng năm ấy để khởi công.


Tượng hoàn thành rất mau, đủ các nét tướng oai nghiêm đẹp đẽ. Vua liền sắc chỉ lập trai hội và thiết lễ cúng dường. Đến đầu canh đêm ấy, tượng Kim Cang Ba-la-mật Bồ-tát phóng ánh sáng ngũ sắc. Tượng Kim Cang Bảo Bồ-tát phóng ánh sáng bạc ngân. Tượng Kim Cang Thủ Bồ-tát phóng ánh sáng xanh biếc. Tượng Kim Cang Dược Xoa Bồ-tát phóng ánh sáng lưu ly. Tượng Kim Cang Lợi Bồ-tát phóng ánh sáng hoàng kim. Năm thứ quang minh chói xa rực rỡ, khắp trong nước sáng như ban ngày. Người đang đau bệnh gặp quang minh ấy đều được khỏe mạnh, kẻ sắp chết liền tươi tỉnh an lành. Các quỷ thần ác sợ chạy ra khỏi nước. Trong xứ hiện ra cảnh đầm ấm an ổn, vua quan và dân chúng đều vui mừng. Đến canh ba đêm ấy, ánh sáng mới tắt. Từ đó về sau, trong nước dứt hẳn tật dịch, nhân dân yên vui giàu thịnh.


Mỗi ngày mồng tám đầu năm, dân bản xứ có lệ thiết trai hội Nhân Vương Bát-nhã và cúng dường năm vị đại lực Bồ-tát.



105.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG DIỆT ÁC THÚ BỒ-TÁT


Trích lục: Tân Lục.


Đời Đường, Thích Pháp An ở chùa Pháp Tụ tại Ích Châu, hằng sám hối để cầu diệt tội, nhưng tu niệm đã lâu mà vẫn không thấy điềm cảm ứng. Sư buồn thương, đến quỳ trước bàn Phật khóc lóc tự hối trách.


Đêm ấy, Pháp An mộng thấy một vị thần y quan khác lạ đến bảo:


Ông có tội nặng, tu phép sám hối thông thường không cứu rỗi được!


Sư nói:


- Đó là tội chi và tu pháp gì để giải thoát?


Thần đáp:


- Ông lạm dụng của thường trụ, tội ấy khó diệt. Muốn được tiêu trừ, phải họa tượng Diệt Ác Thủ Bồ-tát, chuyên tụng Tùy Cầu Đà-la-ni và tu phép Phương Đăng Sám Hối. Thức giấc, Pháp An nhớ kỳ mọi việc, từ đó y theo lời thần dạy, họa tượng chuyên tu. Về sau, Sư hành trì đắc lực, mỗi khi nhắm mắt liền thấy hóa Phật và các điềm lành.


Pháp An sống đến sáu mươi bảy tuổi mới tịch. Lúc lâm chung, cảm hiện nhiều điều tốt lạ.



106.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG DƯỢC VƯƠNG DƯỢC THƯỢNG BỒ-TÁT


Trích lục: Tân Lục.


Thích Diệu Vân ở chùa Tổng Nhân, thường tụng kinh Pháp Hoa, nguyện sinh lên cung trời Đâu-suất. Sư có họa tượng hai vị Bồ-tát là Dược Vương và Dược Thượng để cầu cảm ứng. Năm hơn bảy mươi tuổi, Diệu Vân cảm bệnh nhẹ, nói với đồng bạn rằng:


- Hóa Phật đến bảo tôi: Dược Vương, Dược Thượng Bồ-tát công đức rất lớn. Nếu có người nào biết danh tự hai vị Bồ-tát ấy, tất cả nhân thiên cũng nên lễ bái cúng dường. Ngươi nhờ họa hình tượng hai vị Bồ-tát đó, nên quyết định sẽ được sinh lên Nội viện Đâu-suất, vào pháp hội đức Di-lặc và chứng đạo quả trong tương lai.


Ít hôm sau, Sư mạng chung.



107.- SỰ CẢM ỨNG CỦA ĐÀ-RA-NI TỰ TẠI VƯƠNG BỒ-TÁT


Trích lục: Tân Lục.


Đời Đường, đệ tử của Huệ Như thiền sư là Sa-môn Thích Huệ Sinh, thường tụng kinh Đại thừa. Một hôm, Sư tụng kinh xong, liền ngồi yên bất động luôn một ngày đêm như vào thiền định.


Đến sáng hôm sau, Huệ Sinh chợt mở mắt, lộ vẻ mừng thương lẫn lộn, giọt lệ tuôn rơi, cả minh đổ mồ hỏi đó thầm như máu. Chư tăng xúm lại hỏi nguyên do, Sư đáp:


- Tôi bị thỉnh xuống cung điện cõi u mình. Diêm vương trông thấy cung kinh đón chào và cho quý sử dẫn đi xem các cảnh địa ngục. Tôi qua phương Đông, lần lượt trải ba mươi hai thành, mỗi thành đều có địa ngục, những kẻ thọ tội phần nhiều là hàng xuất gia. Bên một vạc dầu lớn, có vị Sa-môn thân tướng trang nghiêm, đang thuyết pháp giáo hóa. Tôi hỏi: “Ngài là ai?”, thì vị Sa-môn ấy đáp: “Ta là Đà-la-ni Tự Tại Vương Bồ-tát. Ở núi Đại Thiết Vi này. có vô số người xuất gia đọa địa ngục. Những kẻ ấy lúc binh sinh tranh đua quyền thế danh lợi, phạm các giới cấm, làm hạnh xấu, hoen ố cảnh già- lam, không đức hạnh mà thọ của tín thí, thuyết pháp với ý đồ riêng tư, mượn hình thức tu dối hoặc người đời. Những tội như thế đều là quả báo địa ngục. Ta vì thương xót sự khổ của hàng xuất gia ngu si ấy, nên đến các địa ngục tùy cơ thuyết pháp, khiến cho họ nhớ biết tội mình đã tạo mà hổ thẹn sám hối, chán lìa tỉnh ngộ". Trông thấy các cảnh ấy, tôi mừng cho mình sớm ý thức đường tu, thương đồng bọn mê lầm chịu khô, và kinh sợ những ác báo ở cõi u minh, mới xuất ra huyết hạn.


Việc ấy truyền lan, nhiều vị xuất gia nghe biết, đều tự xét và cải hối những lỗi lầm.



108.- SƯ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG LONG THỌ BỒ-TÁT


Trích lục: Tịnh Độ Truyện.


Thích Đạo Thuyên, tuổi trẻ đã nổi danh là bậc chân tu thật học. Sư lấy Trí Độ Luận làm tông yếu, tôn Long Thọ Bố-tát làm thầy. Đạo Thuyên từng học kệ phát nguyện rằng:


Đấng Đại sĩ Long Thọ

Đã mong Phật thọ ký 

Chứng Sơ Hoan Hỷ Địa 

Sinh về cõi Cực Lạc 

Giúp Di-đà tuyên hóa 

Mười phương tiếp hữu tình

Xin rủ lòng thương xót 

Dìu dắt con vãng sinh!


Sư lại tạo tượng Long Thọ Bồ-tát cao ba thước, thường đem hương hoa cầu nguyện cúng dường.


Một đêm, Đạo Thuyên mộng thấy vị Sa- môn đến bảo:


- Tịnh nghiệp của ngươi sẽ thành tựu không còn nghi. Ba năm sau, ngươi mới vàng sinh về Cực Lạc.


Thuyên bạch rằng:


- Sư trưởng cha mẹ là bậc ân đức, con xả thọ trước làm sao mà phụng dưỡng.


Sa-môn bảo:


- Ngươi đã có nguyện ấy, ta về bạch lại Phật rồi sẽ hay.


Ba hôm sau, Sư lại mộng thấy Sa-môn đến nói:


- Ta đã đem lời ngươi bạch với đức A-di-đà Thế Tôn. Phật dạy: “Thầy ngươi mười hai năm sau sẽ thị tịch. Cha mẹ ngươi hai mươi năm sau nữa mới màn phần. Ngươi có tâm huyết hiểu hạnh nên được tăng thọ, hai mươi ba năm sau quyết định vãng sinh".


Thuyên lại hỏi:


- Ngài là ai?


Sa-môn đáp:


- Ta là Long Thọ, vị tổ thứ mười ba trong Phủ Pháp Tạng. Ngươi tạo tượng ta và cầu nguyện nên nay đến nhắc nhở.


Hai mươi ba năm sau, vào ngày rằm tháng giêng, Đạo Thuyên vãng sinh. Cha mẹ sư trưởng của ông mãn phần đúng như lời Phật ấn ký, đều được về Tịnh độ. Lúc Sư lâm chung, có mây tím che phủ am, tiếng nhạc nổi lên giữa hư không, và nhiều điềm lành khác.


Xét trong kinh Đại Trang Nghiêm Tam- muội, Mã Minh Bồ-tát thuở quá khứ đã thành Phật, hiệu Nhật Nguyệt Tinh Minh; Long Thọ Bồ-tát bản tích là vị cổ Phật, hiệu Diệu Vân Tự Tại Vương Như Lai.




 

TAM BẢO CẢM ỨNG YẾU LƯỢC LỤC


MỤC LỤC


LỜI TỰA



QUYỂN THƯỢNG



1.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỦA VUA ƯU ĐIỄN VÀ BA-TƯ-NẶC

2.- SỰ CẢM ỨNG HỌA TƯỢNG PHẬT CỦA VUA ẢNH THẮNG

3.- SỰ CẢM ỨNG MỘNG THẤY TƯỢNG PHẬT CỦA MINH ĐẾ NHÀ HÁN

4.- SỰ CẢM ỨNG THỈNH TƯỢNG PHẬT CỦA LƯƠNG VÕ ĐẾ

5.- SỰ CẢM ỨNG DI TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC TỪ CÙNG DIÊM-LA TRỞ VỀ


6.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU ĐƯỢC MẠNG CHỒNG

7.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC THẤY CÕI CỰC LẠC

8.- SỰ CẢM ỨNG CỦA HAI NGƯỜI NGHÈO ĐEM TIỀN VÀNG THUÊ HỌA TƯỢNG PHẬT

9.- SỰ CẢM ỨNG GÓP TIỀN TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC THOÁT KHỔ

10.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT VÀ BỒ-TÁT ĐƯỢC SINH LÊN CUNG TRỜI ĐÂU-SUẤT



11.- SỰ CẢM ỨNG THỜ HỌA TƯỢNG PHẬT A-DI-ĐÀ ĐƯỢC VÃNG SINH

12.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG A-DI-ĐÀ CAO BA TẤC CỦA THÍCH ĐẠO DŨ

13.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU ĐƯỢC SONG THÂN

14.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU CHÚNG SINH Ở TAM ĐỒ

15.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỦA SA-MÔN TĂNG CAO



16.- SỰ CẢM ỨNG PHẬT HÓA CHIM ANH VŨ DẪN NGƯỜI NIỆM PHẬT

17.- SỰ CẢM ỨNG PHẬT HÓA LÀM THÂN CÁ DẪN ĐỘ NGƯỜI NIỆM PHẬT.

18.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM PHẬT ĐƯỢC THOÁT KHỔ ĐỊA NGỤC

19.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT A-SÚC BỆ CỦA THÍCH SONG HUỆ

20.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CÒN ĐƯỢC SỐNG THÊM NĂM MƯƠI NĂM 


21.- SỰ CẢM ỨNG CẦU NGUYỆN PHẬT DƯỢC SƯ ĐƯỢC GIÀU SANG 

22.- SỰ CẢM ỨNG ĐEM MỘT ĐỒNG TIỀN CÚNG PHẬT ĐƯỢC GIÀU SANG

23.- SỰ CẢM ỨNG NGƯỜI PHÁ GIỚI XƯNG HIỆU PHẬT DƯỢC SƯ LẠI ĐẮC GIỚI

24.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT DƯỢC SƯ ĐƯỢC KHỎI TỘI

25.- SỰ CẢM ỨNG MỘT THAI PHỤ ĐƯỢC PHẬT DƯỢC SƯ CỨU KHỎI NẠN 


26.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT DƯỢC SƯ ĐƯỢC HOÀN SINH

27.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT TỲ-LÔ-GIÁ-NA TRỪ ĐƯỢC CHƯỚNG NẠN

28.- SỰ CẢM ỨNG ĐỨC ĐỘNG HIỆP THÂN TỰ XƯNG VÔ GIÁ-ĐÀ-BÀ

29.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TƯỢNG NGẦM ĐỨC PHẬT CỦA NGÀI THÍCH HÀM CHIẾU

30.- SỰ CẢM ỨNG VỀ VIỆC TRUYỀN THỪA CỦA HAI BỘ MẠN-ĐÀ-LA


31.- SỰ CẢM ỨNG LỄ BÁI KIM CANG MẠN-ĐÀ-LA ĐƯỢC ẢNH HƯỞNG GIẢI THOÁT

32.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM THÁNH CHÚNG THAI TẠNG MẠN-ĐÀ-LA ĐƯỢC THOÁT NẠN

33.- SỰ CẢM ỨNG XÁ-LỢI HIỆN ĐIỀM LÀNH

34.- SỰ CẢM ỨNG ÔNG A ĐẮC TẠO CHÙA THÁP ĐƯỢC HOÀN SINH

35.- SƯ CẢM ỨNG NHỜ BẠN CŨ TẠO CHÙA THÁP ĐƯỢC LÌA THÂN MÃNG XÀ


36.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM QUAN ÂM, PHÁT NGUYỆN LÀM THÁP PHẬT ĐƯỢC KHỎI TỘI CHẾT

37.- SỰ CẢM ỨNG ĐO NỀN TỊNH XÁ CỦA TRƯỞNG GIẢ TU ĐẠT

38.- SỰ CẢM ỨNG VỀ QUẢ LÀNH XÂY CẤT CHÙA SAU KHI PHẬT NHẬP DIỆT

39.- SỰ CẢM ỨNG DÙNG CHIẾC GẬY LÀM TRỤ VÁCH TINH XÁ ĐƯỢC KHỎI CHẾT YẾU

40.- SỰ CẢM ỨNG QUÉT SÂN TINH XÁ ĐƯỢC SINH CÕI TRỜI


41.- SỰ CẢM ỨNG DO TẠO TINH XÁ, CHA MẸ NHIỀU ĐỜI ĐƯỢC THÊM PHƯỚC

42.- SỰ CẢM ỨNG VỀ OAI ĐỨC CỦA TINH XÁ PHẬT TẠI NƯỚC THẤT-LA-PHIỆT-TẤT-ĐẾ

43.- SỰ CẢM ỨNG CỦA ĐỨA TRẺ CHƠI ĐÙA, DÙNG LÁ CÂY LÀM TINH XÁ ĐƯỢC SỐNG LÂU

44.- SỰ CẢM ỨNG THẦY TỶ-KHEO TÔ ĐẮP LỖ VÁCH ĐƯỢC TĂNG THỌ

45.- SỰ CẢM ỨNG VUA NƯỚC KIM ĐỊA SỬA CHÙA HƯ ĐƯỢC THÊM TUỔI 




QUYỂN TRUNG



46.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH HOA NGHIÊM, TRÙNG KIẾN NHỜ NƯỚC RỬA TAY ĐƯỢC SINH CÕI TRỜI

47.- SỰ CẢM ỨNG KINH HOA NGHIÊM ĐỔI CHỖ NẰM TRÊN KINH A-HÀM

48.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH HOA NGHIÊM ĐƯỢC TẶNG THUỐC TIÊN

49.- SỰ CẢM ỨNG PHÁP LỰC KINH HOA NGHIÊM ĐÁNH LUI A-TU-LA

50.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG BÀI KỆ KINH HOA NGHIÊM PHÁ ĐƯỢC ĐỊA NGỤC


51.- SỰ CẢM ỨNG LONG TỬ THÀNH TÂM HỌC KINH A-HÀM

52.- SỰ CẢM ỨNG SỰ TĂNG DU TỤNG KINH A-HÀM ĐƯỢC SINH VỀ TỊNH ĐỘ

53.- SỰ CẢM ỨNG TẢ KINH A-HÀM ĐƯỢC SINH CÕI TRỜI

54.- SỰ CẢM ỨNG CON CHÓ NGHE KINH A-HÀM, SAU ĐƯỢC CHỨNG QUẢ

55.- SỰ CẢM ỨNG BẦY DƠI NGHE TẢNG A-TỲ-ĐẠT MA ĐƯỢC GIẢI THOÁT


56.- SỰ CẢM ỨNG CON CHUỘT NGHE TANG LUẬT ĐƯỢC ĐẠO QUẢ

57.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TỶ-KHEO THỌ TRÌ TẠNG LUẬT

58.- SỰ CẢM ỨNG THỌ TRÌ KINH ĐẠI TẬP DIỆT TỘI NGŨ NGHỊCH

59.- SỰ CẢM ỨNG NGHE TÊN KINH PHƯƠNG ĐẲNG ĐƯỢC SINH TỊNH ĐỘ

60.- SỰ CẢM ỨNG TU PHƯƠNG ĐẲNG SÁM PHÁP ĐƯỢC THỌ KÝ


61.- SỰ CẢM ỨNG VỀ GIẢNG TỤNG KINH DUY-MA CẬT

62.- SỰ CẢM ỨNG TẢ KINH DUY-MA CỨU MÌNH VÀ SONG THÂN

63.- SỰ CẢM ỨNG VỀ GIẢNG KINH LĂNG-NGHIÊM

64.- SỰ CẢM ỨNG VỀ GIẢNG TỤNG THẮNG MAN

65.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TU TẬP KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ


66.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TỶ-KHEO THÍCH TĂNG CẢM

67.- SỰ CẢM ỨNG VỀ DIỄN GIẢNG KINH KIM QUANG MINH

68.- SỰ CẢM ỨNG TẠO KINH KIM QUANG MINH SIÊU ĐỘ OAN GIA

69.- SỰ CẢM ỨNG VỀ ĐỌC TỤNG THƯ TẢ KINH DƯỢC SỰ

70.- SỰ CẢM ỨNG VỀ THƯ TẢ KINH TỲ-LÔ-GIÁ-NA


71.- SỰ CẢM ỨNG VỀ ĐEO MANG TÙY CẦU ĐÀ-RA-NI

72.- SỰ CẢM ỨNG VỀ OAI THẦN CỦA TÔN THẮNG ĐÀ-RA-NI

73.- SỰ CẢM ỨNG VỀ VIỆC NGHE KINH THỌ MẠNG

74.- SỰ CẢM ỨNG VỀ BIÊN CHÉP TRÌ TỤNG BÁT-NHÃ TÂM KINH

75.- SỰ CẢM ỨNG KHI DỊCH KINH ĐẠI BÁT-NHÃ


76.- SỰ CẢM ỨNG KHI CÚNG DƯỜNG KINH ĐẠI BÁT-NHÃ

77.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TẢ KINH ĐẠI BÁT-NHÃ

78.- SỰ CẢM ỨNG VỀ NGHE VÀ TỤNG KINH ĐẠI BÁT-NHÃ

79.- SỰ CẢM ỨNG VỀ BIÊN CHÉP, ĐỌC TỤNG KINH KIM CANG BÁT-NHÃ

80.- SỰ CẢM ỨNG VỀ VIỆC GIẢNG TỤNG KINH NHÂN VƯƠNG BÁT-NHÃ


81.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TỤNG KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA

82.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH PHÁP HOA, MÔI VÀ LƯỠI KHÔNG HƯ RÃ

83.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH PHÁP HOA ĐƯỢC SINH VỀ TỊNH ĐỘ

84.- SỰ CẢM ỨNG VỀ CÚNG DƯỜNG KINH PHÁP HOA

85.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TRUYỀN BÁ KINH ĐẠI NIẾT-BÀN


86.- SỰ CẢM ỨNG TẢ TỤNG KINH NIẾT-BÀN ĐƯỢC SINH VỀ CÕI PHẬT VÔ ĐỘNG



QUYỂN HẠ



87.- SỰ CẢM ỨNG KHI ĐỨC VĂN-THÙ HẠ SINH

88.- SỰ CẢM ỨNG ĐỨC VĂN-THÙ HÓA LÀM BẦN NỮ

89.- SƯ CẢM ỨNG CẦU VĂN-THÙ BỒ-TÁT

90.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG ĐỨC VĂN-THÙ



91.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHỔ HIỀN BỒ-TÁT

92.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG ĐỨC DI-LẶC Ở NƯỚC Ô TRÀNH

93.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TẠO TƯỢNG BỒ-TÁT DI-LẶC

94.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM

95.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM QUÁN ÂM ĐƯỢC SỐNG LÂU


96.- SỰ CẢM ỨNG CÚNG DƯỜNG TƯỢNG QUÁN ÂM HƯ MỤC

97.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG THẬP NHẤT ĐIỆN ÂM

98.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN

99.- SỰ CẢM ỨNG HỌA TƯỢNG THIÊN THỦ NHÃN

100.- SỰ CẢM ỨNG CỦA SÁU BỨC TƯỢNG QUÁN ÂM


101.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TƯỢNG QUÁN ÂM, ĐỊA TẠNG

102.- SỰ CẢM ỨNG KHI TẠO TƯỢNG ĐẠI THẾ CHÍ BỒ-TÁT

103.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG ĐỊA TẠNG BỒ-TÁT

104.- SỰ CẢM ỨNG CỦA PHÁP TƯỢNG NĂM VỊ BỒ-TÁT

105.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG DIỆT ÁC THÚ BỒ-TÁT

106.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG DƯỢC VƯƠNG DƯỢC THƯỢNG BỒ-TÁT

107.- SỰ CẢM ỨNG CỦA ĐÀ-RA-NI TỰ TẠI VƯƠNG BỒ-TÁT

108.- SƯ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG LONG THỌ BỒ-TÁT




LỜI KỆ SAU CÙNG CỦA DỊCH GIẢ


 

Đã y truyện sách biên soạn thành 

Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục 

Các việc như thế hãy còn nhiều 

Chỉ ghi một ít làm tín chứng 

Nguyện người nghe thấy đều phát tâm 

Tạo kết duyên lành ngôi Tam Bảo 

Dù rằng tin ngợi hoặc nghi chê 

Đều mong lợi ích thoát sinh tử 

Phật từng thọ ký đời mạt pháp 

Nghe danh Tam Bảo khởi lòng tin 

Tội chướng ba đời đều tiêu trừ 

Kiếp sau được gần các Hiền Thánh. 

 

Nguyện đem công đức biên soạn này 

Hồi hướng chúng sinh trong pháp giới

Được nhiều thắng duyên thêm phước huệ 

Đều chứng Vô Thượng đại Bồ-đề. 








Thưa các Vị,

 

Tám bài cuối xin miễn giảng giải, càng nói lại càng Sai lầm, SAI VỚI ĐẠO, bởi vì đây cũng là Ý sau rốt của người TU, Bút-giả  hiện chưa đi đến Địa-vị nầy như Chư Tăng Ni khác, vẫn mong sẽ đắc Ý trước khi VIÊN TỊCH. 



BÀI KỆ THỨ 101

 

Ẩn tu niệm niệm bút sanh hoa

Thi-tứ nguồn tâm một mạch ra

Danh-tự vị nguyên là Phật-nhãn

Non Tây rực rỡ dệt hồng hà.

 

BÀI KỆ THỨ 102

 

Ẩn tu trắc trắc, lại bình bình

Niệm đạt vô-tình lẫn hữu tình

Lầu tuyết rã tan ngàn thế giới

Chân trời pháp nhãn lộ bình-minh.

 

 BÀI KỆ THỨ 103

 

Ẩn tu niệm vỡ chụp pha-lê

Muôn ổn ngàn yên lặng khắp bề !

Riêng một bóng Tăng ngồi tĩnh-tọa

Lâm-viên vừa bặt tiếng sơn khê.

 

 BÀI KỆ THỨ 104

 

 

Ẩn tu sừng-sửng cội cây khô

Một ngón Thiên Long, dứt ý-đồ

Phật tử đến thăm như hỏi đạo

A Di Đà Phật lại NAM MÔ.

 

 BÀI KỆ THỨ 105

 

 

Ẩn tu nhơn cảnh chợt đều quên

Sáng-rỡ vầng-nga rọi trước thềm

Mùi đạo Lan-thanh riêng tự biết

Kêu mưa đã vắng giọng cưu đêm.

 

 BÀI KỆ THỨ 105

 

Ẩn tu suối lặng bóng chim qua

Chim nước đều như tự tại hoà

Di Lặc trao cho xem túi vải

Dưới trên đều rỗng, giọng kha kha !!!

 

 BÀI KỆ THỨ 107

 

 

Ẩn tu bên viện tiếng chuông dồn!

Sấm nổ Oai âm tỉnh mộng hồn

Chồn nhảy vào hang Sư tử chúa

Sư-Vương lại dạo dã hồ thôn.

 

 BÀI KỆ THỨ 108

 

Ẩn tu trì niệm tháng năm qua

Đạp lối Sen thanh trở lại NHÀ

Tin-tức ngày nay vừa thấy được

Tiếng chuông Sơn tự bóng trăng tà !

 

 

TỰ CẢM

 


Sáu tám nhọc-nhằn kể xiết chi,
Thăng trầm nhiều nổi ch
í không di.
Mài giũa cho thành ra ngọc quý,
Mới hay châu nọ thiệt “Ma-ni”.
Một niệm công-thuần hai bốn chẵn,
Cõi tạm khứ-hồi mấy kẻ tri!
Khỉ đến, mèo kêu, ba chuột chạy,
Trần-duyên vĩnh dứt, đoạn sầu bi.


Sáu tám năm qua việc đáng kinh,
Thăng-trầm vùi-dập, lắm tai-tinh.
Chẳng qua một giấc mơ dài ấy,
Mà kiếp phù-sinh tạm múa hình.
Hai bốn năm ròng chuyên NHỨT NIỆM,
DI-ĐÀ sáu chữ phóng quang-minh.
Hôm qua tin-tức trời TÂY báo,
GIỜ MẸO MAI ĐÂY TẠ THẾ TÌNH.


Đời ta chí gởi chốn Liên-trì,

Trần thế vinh-hư sá kể gì.

Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,

Mừng nay được thấy đức A-Di.



TA ĐI ĐÂY – ĐẠI CHÚNG NÊN BẢO TRỌNG


 Ðại-sư hưởng thọ tuổi đời 68, tăng-lạp 48.

 




PHÁP YẾU TU HÀNH

Hòa-Thượng Thích-Thiền-Tâm

 

 

Yếu điểm của đường tu

Gồm hai phần Sự, Lý.

 

LÝ tu là sửa tâm

Cho hợp với chân lý

Sự tu chỉnh ba nghiệp

Giúp chứng cảnh chân như

Sửa tâm là dứt trừ

Nghiệp tham, ái, nóng, giận

Si mê cùng tật đố

Ngã mạn với kiêu căng

Chớ chạy theo hình thức

Say đắm nẻo lợi danh

Chuộng địa vị, quyền hành

Khoe thông minh, tài giỏi

Phải sanh lòng giác ngộ

Niệm thanh tịnh từ bi

Dõng tiến mà kiên trì

Sáng suốt mà khiêm hạ

Tự nghĩ mình xưa nay

Ðã tạo nhiều tội chướng

Chịu nhẫn nhục, sám hối

Biết an phận, tùy duyên

Duyên tốt chẳng kiêu khoe

Duyên xấu không thối não

Bình tỉnh mãi tiến tu

Như bơi thuyền ngược nước

Về biển Tát Bà Nhã

Ðến Bảo Sở an vui

Ðó là phần tu tâm

Hợp với lý giải thoát.

 

SỰ tu là thân nghiệp

Lễ kính Phật sám hối

Khẩu nghiệp trì chú kinh

Hoặc niệm Phật khen ngợi

Ý  nghiệp giữ thanh tịnh

Mật tu môn Lục Niệm

Nguyện đền đáp bốn ân

Nguyện mình cùng chúng sanh

Sanh cõi vui thành Phật

Ðời đời gặp chánh Pháp

Tu sáu độ muôn hạnh

Tâm Bồ Ðề độ sanh

Trần kiếp không thối chuyển

Tu Sự mà bỏ Lý

Làm sao mở chân tâm?

Tu Lý mà phế Sự

Cũng không thể thành Phật !

Tu Sự chẳng chấp TƯỚNG

Thì tức SẮC là KHÔNG

Tu Lý không bỏ Sự

Ðó tức KHÔNG là SẮC

Lý chính thật Chân-Không

Sự là phần Diệu-Hữu

Chân-Không tức Diệu-Hữu

Diệu-Hữu tức Chân-Không

Nếu chưa đạt lẽ nầy

Thà tu hành chấp CÓ

Ðừng cầu cao bác tướng

Mà lạc vào Ngoan-Không

Ðây chính hầm khổ đọa

Kẻ thông minh đời nay

Ða số mắc lỗi nầy.

Xưa có sư TÔNG THẮNG

Tài huệ biện cao siêu

Vì ỷ giỏi kiêu căng

Nên bị nhục chiết phục

Hỗ thẹn muốn tự tận

Thọ thần hiện thân khuyên

“ Sư nay đã trăm tuổi 

Tám mươi năm lầm lạc

May nhờ gặp Thánh nhân

Huân tu mà học đạo

Tuy có chút công đức

Mà lòng hay bỉ ngã

Ỷ thông minh biện bác

Lấn người không khiêm hạ

Lời cao hạnh chưa cao

Nên phải bị quả báo

Từ đây nên tự kiểm

Ít lâu thành trí lạ.

Các THÁNH đều tồn tâm

NHƯ LAI cũng như vậy ”

Lại có kẻ đua tướng

Tranh Thượng Tọa ,Ni Sư

Mượn thuyết pháp, tụng kinh

Ðể mưu cầu lợi dưỡng

Dành đệ tử, chùa chiền

Lập bè đảng, quyến thuộc

Thấy có ai hơn mình

Liền thị phi tật đố

Hại Thầy Bạn, phản Ðạo

Lừa dối hàng tín tâm

Lời nói thật rất cao

Việc làm thật rất thấp

Lý Sự đều sai trái

Hạng ấy hiện rất nhiều

Tạo biển khổ thêm sâu

Khiến đau lòng tri-thức

Lý, Sự đại lược thế.

 

CÔNG ĐỨC làm sao được?

Phật là ÐẠI Y VƯƠNG

Pháp là DIỆU TIÊN DƯỢC

Là phương-thuật rất mầu

Là như-ý bảo châu

Hay trừ nạn nghèo khổ

Khiến cho được giàu vui

Hay trừ tất cả bệnh

Khiến mau được bình phục

Hay trừ nạn yểu số

Khiến thọ-mạng dài lâu

Hay khỏi các tai ách

Như bão lụt, binh lửa

Giặc cướp cùng tà ngoại

Ác thú với độc xà

Các yêu ma , quỷ mị

Nạn động đất, xe, thuyền

Những phù-chú ếm-đối

Ðều phá tiêu tan hết

Cho đến trừ tội chướng

Sanh trưởng phước huệ to

Cứu chúng đọa Tam Ðồ

Siêu lên bờ giải thoát.

CHUYÊN TỤNG một phẩm Kinh

Một Chân-Ngôn, hiệu Phật

Thì thành tựu các nguyện

Thỏa mãn các mong cầu

Chỉ sợ người không tin

Hoặc tin mà không sâu

Lại ngại không thực hành

Hoặc hành không bền lâu

Hoặc tuy hành bền lâu

Không chí tâm khẩn cầu

Chí tâm là không vọng

Trì niệm quên thân tâm

Lặng lẽ dứt phân biệt

Không trong, ngoài, người, cảnh

Khi đi, đứng, thức, ngủ

Chẳng bỏ câu trì niệm

Lúc hưỡn, gấp, an, nguy

Cũng vững vàng trì niệm

Cho đến khi sắp chết

Vẫn như thế trì niệm

Ðắc, thất đều do đây

Cần chi hỏi tri thức

Không hành như trên đây

Phật cũng khó cứu vớt

Huống nữa là PHÀM TĂNG

Giúp ích được gì đâu

Nhớ lời Cổ Ðức dạy:

“Ta có một bí quyết

Khẩn thiết khuyên bảo nhau

Là hết lòng THÀNH KÍNH

Nhiệm mầu cực nhiệm mầu ”

Hãy ghi nhớ lời nầy

LẮNG LÒNG suy gẫm sâu.

Trời xanh tươi biếc một mầu

Ánh trăng vẫn sáng một mầu xưa nay

Mà sao đời đạo đổi thay

Cỏ hoa đượm nét u-hoài thờ-ơ

“THUYẾT PHÁP bất đậu cơ

Chúng sanh một khổ hải ”

Ðời mạt suy thế đạo lại thêm thương

Sóng dồn bọt biển tà dương

Con thuyền cứu độ khuất đường vân yên

Bụi hồng tung gió đảo điên

Vô tình mai nở diệu hiền cành xuân.


Nam-mô Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như-Lai.

 







BẠT NHỨT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BỔN

ĐẮC SANH TỊNH ĐỘ ĐÀ RA NI

 

NAM MÔ A DI ĐA BÀ DẠ, ĐA THA DÀ ĐA DẠ, ĐA ĐIỆT DẠ THA. A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐẾ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐA, DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA, CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. 

UM! BÚT RUM! HÙM!


(21 lần)



VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI CHƠN NGÔN

  

NAM MÔ RÁT NA TRA DẠ DA. 

NAM MÔ A RỊ DA.  A MI TÁ BÀ DA.  TÁT THA GA TÁ DA.  A RA HA TI.  SAM DẮT SAM BUÝT ĐÀ DA.  TÁT DA THA. 

UM !  A MI RỊ TI.  A MI RỊ TÔ NA BÀ VÊ.  A MI RỊ TÁ SAM BÀ VÊ.  A MI RỊ TÁ GA BÊ.  A MI RỊ TÁ SUÝT ĐÊ.  A MI RỊ TÁ SI TÊ.  A MI RỊ TÁ VI CA LĂN TÊ.

A MI RỊ TÁ VI CA LĂN TÁ GA MI NỊ.  A MI RỊ TÁ GÀ GA NA KY TI CA LI.  A MI RỊ TÁ LÔ ĐÔ VI SA PHẠ LI.  SẠT VA RỊ THÁ SA ĐÀ NI.  SẠT VA MA CA LI.  SA KHẤT SÁ DU CA LI.  SÓA HA.  UM! BÚT RUM! HÙM!


 (21 lần)


Nam mô Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, PHÁP GIỚI TẠNG THÂN A DI ĐÀ NHƯ LAI biến pháp giới Tam bảo.




NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

(niệm mau 10 hơi)





(KINH: Lúc xướng chữ A, thời nhập bát nhã ba la mật môn tên là Bồ Tát oai lực nhập vô sai biệt cảnh giới.)



Đức Phật Thế-Tôn, Chánh Biến Tri

Tướng hảo đoan nghiêm đều viên mãn,

Rủ lòng đại từ bi vô hạn,

Mở bày đại pháp cứu quần mê.


Niệm Phật hiện tiền đắc Phật tướng,

Thâm nhập cảnh giới bất tư nghị.

Nhân đây Bồ-Tát Sơ phát tâm,

Quyết định một lòng xưng niệm Phật,

Hồng danh chứa nhóm vô lượng nghĩa,

Lợi lạc muôn ức chúng hữu tình.

Đức Phật Thế-Tôn, đấng Vô-thượng

Tri kiến, giác ngộ đều quang minh,

Rắc rải tuệ nhật khắp mười phương,

Rưới trận mưa pháp như Cam lộ.


Niệm Phật vãng sanh cõi Cực-Lạc,

An nhiên chứng đắc Vô-Sanh-Nhẫn.

Nhân đây Bồ-Tát Sơ phát tâm,

Gìn giữ thân tâm bằng Phật hiệu,

Hồng danh tỏ ngộ Chân Như Tánh,

Dẫn dắt chúng sanh vào Tam-muội.

Đức Phật Như-Lai đấng Bất-động

Chẳng đến, chẳng đi, chẳng đoạn thường,

Xa lìa chấp hữu hoặc chấp vô,

Tự tại chỉ bày phương tiện lực.


Niệm Phật an trụ nơi bản giác,

Tùy nghi hòa hợp với tánh Không.

Nhân đây Bồ-Tát Sơ phát tâm,

Trang nghiêm tự thân bằng niệm Phật,

Hồng danh hiển phát Hư-Không-Tạng,

Tức thời thẳng vào Viên-giác-tánh.

Con nay xưng tán Đại Đạo-Sư,

Khen ngợi hồng danh vô lượng lực.


Nguyện đem hồi hướng khắp chúng sanh,

Mong cầu hết thảy cùng niệm Phật.


NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT



Từ Tán Tâm Sẽ Đi Đến Định Tâm

 

Miệng niệm Phật, tâm tưởng Phật, hoặc trụ nơi câu niệm Phật, gọi là Định Tâm Niệm Phật. Miệng niệm Phật, tâm không nhớ Phật mà suy nghĩ mông lung việc khác, đó là Tán Tâm Niệm Phật. Tán tâm mà niệm, hiệu lực so với định tâm yếu kém rất nhiều. Vì lẽ ấy, từ xưa đến nay các bậc thiện tri thức đều khuyên người cố gắng định tâm trì niệm, đừng để tán tâm.


Cho nên tán tâm niệm Phật không đủ làm gương mẫu.

 

Tuy nhiên, mỗi tác động bên ngoài đều liên quan đến tiềm thức, tức là thức thứ tám ở bên trong. Nếu tán tâm niệm Phật hoàn toàn không công hiệu, thì sáu chữ hồng danh kia từ đâu phát hiện? Đã có sáu chữ hiện thành, tất phải có hai chuyển lực: một là do chủng tử, từ tiềm thức phát hiện ra ngoài. Hai là sức tác động từ ngoài lại huân tập trở vào bên trong. Cho nên chẳng thể nói tán tâm niệm Phật hoàn toàn không công hiệu, bất quá so với định tâm nó yếu kém hơn nhiều mà thôi. Lối niệm tán tâm từ xưa đến nay không được đề xướng, nhưng hàm ý và công dụng của nó cũng không thể phủ nhận. Vì thế cổ nhơn có lưu một bài kệ rằng:


Di Đà sáu chữ pháp trung vương,
T
ạo niệm phân vân chớ ngại màng!
Muôn d
ặm phù vân che ánh nhật.
Nh
ơn hoàn khắp xứ ửng dương quang.

 

Bài kệ này suy ra có điều xác đáng. Bởi hạt giống niệm Phật nơi thức thứ tám khi thành thục, tất dẫn phát thức thứ sáu khiến cho sanh khởi tịnh niệm. Rồi từ thức thứ sáu lại cổ động ra năm thức trước để thành hiện hành. Nhưng vì lúc chủng tử niệm Phật trải qua thức thứ sáu, bởi trần nhiễm của chúng sanh sâu dày, nên bị các niệm khác lấn cướp, tuy có lọt khỏi vòng vây song ảnh hưởng còn lại chẳng bao nhiêu. Ví như ánh mặt trời tuy rực rỡ, nhưng vì bị nhiều lớp mây che, nên khi lọt xuống nhân gian, chỉ còn vẻ ửng sáng. Nhưng ánh sáng thừa ấy sở dĩ có, cũng do công năng ảnh hưởng của mặt trời. Biết được lẽ này, người tu Tịnh Độ đừng quá ngại màng đến tạp tưởng phân vân, chỉ liên tiếp niệm hết câu này sang đến câu khác, chánh niệm còn được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Niệm như thế một lúc lâu, tự nhiên ngựa ý sẽ quay về tàu, vượn lòng lần lần vào động. Niệm một lúc lâu nữa, thì chánh niệm hiển lộ rõ ràng, không cần gạn bỏ điều nhiếp, mà tự nhiên thành tựu. Hiểu được lẽ này thì chỉ quý niệm nhiều, đừng ngại tán tâm. Như nước tuy bợn đục, lóng mãi tất sẽ thành trong. Người tuy tạp niệm nhiều, niệm Phật lâu tất sẽ thành chánh niệm. Nên biết cổ đức khi đi đứng nằm ngồi và tất cả hành động đều niệm Phật. Nếu các vị ấy hoàn toàn dùng định tâm mà niệm, thì lúc đi đường tất phải vấp chạm, hoặc khi tả kinh hay làm việc cũng không thể thành công.


Cho nên người xưa cũng có lúc phải phân tâm mà niệm, nhưng vẫn không rời câu niệm Phật, bởi dù có tán tâm vẫn không mất phần ảnh hưởng.

 

Đến đây, xin thuật một câu chuyện. Lúc nọ, có người đến hỏi một thượng tọa: "Thưa thật với thầy, tôi niệm Phật đã hơn mười năm nay mà vọng niệm vẫn còn nhiều, không biết cách chi trừ diệt. Tôi có đi nhiều nơi cầu hỏi phương pháp với những bậc đã tu trước mình. Vị này đưa kinh nghiệm này, vị kia dạy cách khác, có một đại đức lại khuyên tôi nên nín hơi niệm luôn hai mươi mốt câu rồi nuốt một cái. Tôi đã áp dụng qua đủ mọi phương thức, nhưng chỉ định tâm được lúc đầu, rồi sau có lẽ vì lờn quen nên vọng niệm trở lại như cũ. Không biết thầy có phương pháp nào hữu hiệu để dạy tôi chăng?"


Vị thượng tọa đáp: "Điểm thất bại đó do ông không bền lòng, mà cứ thay đổi đường lối. Nên biết phàm phu chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay gây tạo nghiệp nhiễm vọng quá nhiều đâu thể nhứt thời mà thanh tịnh được! Chỗ cốt yếu là phải dụng tâm cho bền lâu. Tôi xin đưa ra đây hai thí dụ: Ví như một bình nước hôi nhơ dẫy đầy, ông đem nước thơm sạch đổ vào. Vì nước dơ đã đầy, nước sạch tất phải dội ra ngoài, song ít nhứt nó cũng lưu lại trong bình một vài giọt. Nếu ông cứ bền tâm đổ vào mãi, ngày kia bình nước hôi sẽ hóa ra nước sạch thơm. Lại ví như ông đau bịnh dạ dày, uống thuốc chi cũng đều ói mửa ra. Ông cứ bền lòng dùng ngay thuốc trị bịnh dạ dày mà uống, đừng thay đổi thuốc chi khác. Mỗi phen uống tuy có bị ói mửa, nhưng chất thuốc cũng lưu lại ít nhiều, lần lần bệnh của ông sẽ dứt. Bệnh phiền não vọng tưởng của chúng sanh cũng thế, dùng thuốc niệm Phật điều trị tự nhiên là thích đáng, nếu thay đổi mãi làm sao thành công? Như có người dùng phèn lóng nước, nó chưa kịp trong, lại nóng nảy vội quậy lên đổ muối vào, đổ muối chưa kịp trong, lại quậy lên đổ vôi bột vào. Cứ thay đổi mãi như thế, làm sao nước trong cho được? Thế nên vấn đề dứt vọng niệm, không phải do nơi thay đổi nhiều phương pháp, mà ở nơi lựa một phương pháp thích hợp rồi thật hành cho bền lâu là thành tựu." Vị ấy nghe xong gật đầu cho là hữu lý.

 

Như đã nói, muốn được định tâm, điểm căn bản là phải dụng công cho bền lâu. Tuy nhiên nếu sợ niệm lực tán loạn, cần có phương tiện để tâm dễ yên tịnh, thì nên áp dụng pháp Thập Niệm Ký Số đã trình bày ở trước. Phép này do dùng hết tâm lực ghi nhớ từ một đến mười câu, nên dễ vào tịnh định. Nếu tâm còn rối loạn và không thể dùng phép Thập Niệm Ký Số, thì trong mỗi câu niệm chỉ cần chú tâm ghi giữ cho chắc một chữ "A". Khi chữ A còn thì mấy chữ khác đều còn, nếu mê mờ để cho nó mất, tất năm chữ kia cũng mất. Lại chữ A  cũng chính là chữ căn bản, và là mẹ của tất cả chữ. Chú tâm vừa niệm vừa ghi chắc chữ A, lâu lâu tự nhiên tâm và cảnh đều tiêu tan dung hợp thành một khối, lượng rộng lớn dường hư không, Phật và mình cũng đều mất.



 

Lúc bấy giờ đương nhiên chữ A cũng không còn. Nhưng lúc trước nó mất là do bởi tâm xao động rối loạn, lúc này nó không còn chính thuộc về trạng thái dung hóa của thường định. Đây là hiện tượng tâm cảnh đều không, điểm sơ khởi để đi vào Niệm Phật Tam Muội.

 

Niệm Phật Thập Yếu





MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 


 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường



Một câu A Di Ðà

Như ngọc lắng trong nước

Ngàn muôn tạp niệm rối

Chẳng dứt tự thành không.

 

Nhứt cú Di Ðà

Như thủy thanh châu

Phân vân tạp niệm

Bất đoạn tự vô.


Hạt châu Thủy Thanh có công năng lóng nước đục thành trong. Câu niệm Phật cũng thế, không luận vọng niệm nhiều ít, hành giả cứ chuyên chú giữ chắc sáu chữ hồng danh lâu ngày, tạp niệm tự nhiên tan mất. Ðiểm đáng lưu ý trong đây là không nên khởi tâm dứt trừ vọng niệm. Vì vọng niệm vốn như huyễn, cố tình muốn dẹp, nó lại càng tăng. Một nhà hiền triết đã nói kinh nghiệm này qua câu: "Càng muốn đè nén, chính là cố tâm làm cho nó thêm phát khởi." (Tương dục án chi, tất cố hưng chi).


Khi xưa có một Tú Tài đến phỏng đạo nơi bậc cao đức, vị Thiền sư này hỏi: “Cư sĩ tên họ chi?" Tú Tài đáp: "Thưa, đệ tử nhũ danh Trương Chuyết". Chữ Chuyết có nghĩa là vụng về. Thiền Sư nghe xong bảo: “Với đạo khéo còn chẳng có, huống chi đến vụng!" Tú Tài nghe qua liền ngộ vào Bất Nhị pháp môn, làm kệ trình lên rằng:


Ánh linh lặng chiếu khắp hằng sa
Phàm thánh nguyên lai bản tánh ta
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị mây lòa
Dứt trừ phiền não càng thêm bịnh
Tìm tới Chân Như cũng vẫn tà
Tùy thuận các duyên không trở ngại
Niết bàn sanh tử tợ không hoa.


Theo ý hai câu luận bài kệ trên, phiền não vốn là không, là huyễn, cứ mặc nhiên giữ chánh niệm, nó sẽ tự tiêu tan. Nếu khởi ý dứt trừ thì phiền vọng lại hóa thành có. Chân Như là thể tánh tự nhiên, biết lặng lẽ dung hợp với tự nhiên, tánh Chân Như sẽ hiển lộ. Nếu khởi tâm tìm tòi xu hướng, tức có niệm phân biệt, trái với thể bản nhiên, đó chính là tà vọng. Ðể bổ túc ý trên, xin ghi thêm lời của Ðàm Hư đại sư, một bậc cao tăng cận đại thuộc giáo phái Thiên Thai bên Trung Quốc.


Ðây Phật Tổ quê hương
Xứ xứ hiện phong quang
Nước non miền đất rộng
Ưng tự có biên cương
Ðộng vật tùy sanh trưởng
Thực vật tự phô trương
Nắng mưa tùy đổi tiết
Tháng năm tự đoản trường
Vinh hư muôn tượng hiện
Là tự thể chân thường
Nếu cố ý cầu toàn
Trở lại bị tổn thương!

Comments

Popular posts from this blog