TAM BẢO CẢM ỨNG YẾU LƯỢC LỤC



6.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU ĐƯỢC MẠNG CHỒNG


Trích lục: Minh Bảo Ký.


Đời Đường, Lý Thái An ở Lũng Tây, nguyên là anh của Công Bộ Thượng Thư Lý Thái Cao. Trong năm Võ Đức, Thái Cao làm Tổng Quân ở Việt Châu, Thái An từ kinh đô đến thăm viếng. Lúc trở về, Thái Cao cho mấy đứa tôi tớ di theo hầu hạ anh.


Trên đường về, đến Cốc Châu, qua một doạn cầu, cả doàn vào trọ nơi lữ quán. Trong bọn tôi tớ, có dứa vì hiềm riêng, muốn giết Thái An. Vào nửa đêm, người này chờ lúc ông ngủ say, dùng gươm nhỏ dâm nơi cổ. Gươm xuyên thầu xuống giường, đứa tớ vì vội vàng không nhổ lên, bỏ chạy trốn. Thái An tỉnh dậy truy hô, nhóm còn lại chạy vào muốn nhỏ gươm, ông ngăn lại, bảo:


- Nếu rút gươm lên có thể ta sẽ chết, mau đem giấy bút lại cho ta viết thư.


Thư viết xong, kế tiếp huyện quan đến, cho y sĩ nhỏ gươm lên, thoa thuốc băng bó Thái An đau đớn, hôn mê bất tỉnh.


Trong lúc mơ màng, ông thấy một vật vuông dài trạng như khối thịt, từ ngoài cửa bay đến trước giường, trong ấy có tiếng nói:


- Trả thịt heo lại cho ta!


Thái An bảo:


- Từ trước đến nay, tôi không ăn thịt heo, vậy đâu có duyên gi mắc nợ ông?


Ngoài cửa bỗng có tiếng gọi:


- Lầm rồi, không phái!


Vật ấy liền bay trở ra. Thái An nhìn ngoài sân thấy có ao lớn, nước trong xanh mát dịu. Trên phía Tây bờ ao có tượng vàng cao độ năm tắc. Giây phút, tượng ấy lần lần cao lớn, hóa thành một vị tăng mặc áo ca-sa mới rất tỉnh sạch. Vị tăng bào Thái An:


- Nay ta vì ông trừ vết thương dau dớn. Sau khi bình phục trở về nhà, ông liền niệm Phật làm lành.


Nói xong, lấy tay xoa rờ chỗ vết thương rồi bỏ đi. Thái An nhìn kỹ, thấy áo ca-sa sau vai vị tăng có vá miếng lụa dó rộng ước độ bàn tay. Kế dó, ông tỉnh lại, chỗ vết thương không thấy dau nhức và rất mau bình phục. Vài hôm, ông đã có thể tự ngồi dậy và ăn uống được.


Hơn mười bữa sau, gia thuộc hay tin đến rước ông về nhà. Khi bà con thân quyến tới thăm viếng, Thái An thuật lại tình trạng lúc bị thương và việc nằm mơ. Dứa tớ gái ở gần bên nghe nói thấy lạ, liền trình bày một duyên sự:


- Lúc ông mới ra đi, ở nhà bà sai người dến nhờ thợ tạc tượng Phật. Khi tượng thành, thợ dùng màu tô diễm và vẽ y phục, rủi có một vết sơn do sự bất cần, làm dơ áo nơi vai tượng. Bà có bảo xóa đi, nhưng thợ đáp phải chờ khô rồi mới sửa lại dược. Nay vết sơn vẫn còn, giống như lời ông nói.


Thái An liền cùng mọi người đến xem pho tượng, thì thấy vết son nằm đúng chỗ miếng lụa đó nơi vai vị tăng mà trong giấc mơ mình đã thấy. Ông kinh lạ than thở, càng tin sự cảm ứng cứu độ của Phật pháp.


Từ đó, Thái An sùng kính ngôi Tam Bảo, làm lành niệm Phật dến trọn đời.



7.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC THẤY COI CỰC LẠC


Trích lục: Tân Lục.


Thích Huệ Cảnh, người Truy Châu, xuất gia tu ở chùa Ngộ Chân. Sau khi thể phát, Sư găng công trai giới khổ hạnh. Lòng mến cảnh Tịnh độ, Sư tạo hai tượng Thích-ca và Di-dà, hằng lễ bái cúng dường.


Đến lúc sáu mươi bảy tuổi, ngày rằm tháng giêng, Huệ Cảnh nằm mộng thấy một vị Sa-môn thân sắc vàng ròng, bảo rằng:


Ngươi muốn thấy Phật và cảnh Tịnh độ chăng?


Dáp:


- Thưa, từ lâu tôi rất ước mong dược chiêm ngưỡng!


Sa-môn trao bát cho và bảo:


- Hãy nhìn vào trong bát!


Huệ Cảnh tiếp lấy và nhìn vào, bồng như lạc đến cõi khác, thấy cảnh Tịnh độ rộng rãi trang nghiêm, các thứ bảu đẹp lạ. Dất toàn bằng vàng ròng, đường sả có dây vàng làm ranh giới. Cung diện lầu các trùng điệp không cùng tận, trong đó các thiên đồng vui vẻ nhàn du. Chúng Bồ-tát, Thanh văn dông như mây, rộng như biển, hội lại vây quanh đức Thế Tôn nghe thuyết pháp.


Lúc đó, Huệ Cành thấy vị Sa-môn đi trước, mình nổi gót theo sau, lần tới chỗ Phật. Đến nơi, vị Sa-môn bỗng ẩn mất. Huệ Cảnh chắp tay dứng trước kim dung, bỗng nghe Phật hỏi:


- Người có biết vị Sa-môn dẫn dường dó chăng?


Dáp:


Bạch Thế Tôn! Con không được biết.


Dấng Tử Tôn bảo:


Dó là Phật Thích-ca Mâu-ni, còn ta là Phật A-di-đà, hai vị mà người đã tạo tượng. Phật Thích-ca như ông cha, ta như bà mẹ, chúng sinh ở thế giới Ta-bà như con khờ dại thơ ngây, lầm rớt xuống bùn lầy. Cha vào nơi bùn sâu bồng con lên, dê trên bờ cao ráo sạch sẽ, mẹ lại ôm con nuôi nấng, dạy bảo đừng nên trở lại chốn bùn nhơ. Chúng ta cũng như thế. Phật Thích-ca dạy dỗ chúng sinh mê tối trược ác ở cõi Ta-bà, làm vị mở dưỡng dẫn lối về nơi Tịnh độ. Còn ta ở cõi Tịnh độ còn bồn phận nhiếp hóa, khiến cho các chúng sinh ấy không còn luân hồi thối chuyên.


Huệ Cánh nghe nói vui mừng khắp khơi. muốn dến gần tham bái dức Thế Tôn, nhưng cảnh tượng bồng ẩn mất.


Tình giấc, Sư cảm thấy thân tâm an vui, như vào thiền định. Từ đó, Sư càng tin tưởng sự cúng lễ tượng hai đức Như Lai.


Một hôm, Huệ Cảnh lại mộng thấy vị Sa- môn khi trước bảo: - Hai mươi năm sau, ngươi sẽ sinh về Tịnh dộ.


Nghe lời ấy, ngày đêm Sư lại thêm tinh tấn tu hành, không khi nào biếng trễ. Đến năm tám mươi chín tuổi, một hôm nọ, Huệ Cảnh từ già đại chúng, rồi an nhiên vãng sinh. Đang lú trăm có vị tăng ở phòng bên, nằm mộng thấy trăm ngàn Thánh chúng từ phương Tây đến rước Sư di. Trên hư không, tiếng âm nhạc diu dặt rồi xa nhỏ lần, nhiều người khác cũng được nghe biết.


8.- SỰ CẢM ỨNG CỦA HAI NGƯỜI NGHÈO ĐEM TIỀN VÀNG THUÊ HỌA TƯỢNG PHẬT


Trích lục: Tây Vức Ký.


Ở nước Kiền-đà-la bên Thiên Trúc, có tượng Phật về cao một tượng sáu. Tượng ấy từ hông trở lên chia làm hai thân, và từ đó trở xuống hợp thành một thể. Về việc ly kỳ này, các vị kỳ túc đều truyền ngôn lại rằng:


Thuở trước, có một người nghèo làm thuê tự nuôi sống, dành được một đồng tiền vàng, nguyện về tượng Phật. Người này đến họa sư bảo:


Nay tôi muốn vẽ tượng mầu của Như Lai, nhưng vì nghèo thiếu chỉ gắng giành để có một đồng vàng, tự nghĩ số tiền hãy còn chưa đủ, chẳng biết ông có thể giúp tôi được chăng?


Họa sự thương sự chỉ tâm của người lạo động, hứa giúp cho hoàn thành, không luận tiên nhiều ít.


Tiếp theo đó, có một kẻ nghèo khác, đồng hoàn cảnh với người trước, cũng dem một đồng tiền vàng dến cầu họa sư vẽ tượng Phật. Họa sư nhận lời, rồi đem số tiền của hai người mua vải và thuốc màu, vẽ được một tượng Phật.


Ít lâu sau, hai người cùng trong một ngày giờ, đồng đến họa sư xin thỉnh tượng về. Họa sư chỉ bức tượng bảo:


Dây là tượng của các ông!


Hai kẻ nghèo nhìn nhau nghi nan do dự. Họa sư biết ý nói:


- Sao hai ông có vẻ nghi lự lâu như thế? Tôi nghĩ phàm việc gì, nhân quả không sai, hào lý chẳng sót. Số tiền của hai ông thật ra chỉ vừa đủ mua vật liệu vẽ một bức tượng, riêng tôi duy giúp công, không lấy thù lao. Đó là vì thương sự chí thiết của hai ông. Nếu hai ông quả thật thành tâm đúng như sự khẩn cầu khi trước, tất theo lý cơ câm của nhân quả, bức tượng phải có sự thần biến. Bằng không, chứng tỏ hai ông chưa được chỉ tâm.


Họa sư nói xong, sự linh dị bằng ứng hiện, phần trên của tượng chia làm hai thân, tướng hào chiếu rực rỡ.


Hai người nghèo tin phục, tỉnh tượng Phật dem về thay nhau để thờ.


9.- SỰ CẢM ỨNG GÓP TIỀN TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC THOÁT KHỔ


Trích lục: Truyền Kỳ.


Ngu An Lương, người huyện Ngư Dương ở U Châu, gia tộc nhiều đời sống bằng nghề sát sinh. Nếu tính những sinh mạng bị giết, không biết đã đến mấy ngàn muôn ức. An Lương lại ít ưa làm công đức, thường nói:


- Nếu cứ giữ theo đường lối tu hành, tất phải nghèo, không làm ăn chỉ được!


Năm ông ba mươi bảy tuổi, nhân dự một cuộc săn bắn, bị té ngựa chết giấc đến nửa ngày mới tỉnh. Lúc hồi sinh, ông vật mình nơi đất than khóc, hối lỗi, tự trách rằng:


- Tôi đã lầm! Tôi đã lầm!


Gia thuộc và tôi tớ hỏi lý do, An Lương trấn định giây lâu mới thuật lại:


- Lúc hôn mê chết giấc, tôi thấy hai con quỹ đầu trâu mặt ngựa dem xe lửa liệng chụp vào thân. Tôi bị đốt cháy cả mình đau khổ vô lượng. Ngay lúc đó, có một vị Sa-môn mặc hoa y đến tưới nước vào xe, dùng tay quạt tắt ngọn lửa. Bấy giờ, sự khổ mới tạm dứt. Khi quỹ dẫn tới cung Diêm-la, vua thấy vị Sa-môn, liên bước xuống thềm chắp tay cung kính thưa:


-Chẳng hay tôn giả đến đây có việc chỉ?


Sa-môn bảo:


- Tội nhân này là người dàn việt của tôi, xin tạm tha cho!


Vua Diêm-la nói:


Dây là kẻ ác, theo lẽ không dược tha, nhưng Đại sư dã dạy, thật chăng dám không vâng lời.


Dược vị Sa-môn lãnh về, tôi hoài nghi lấy làm lạ, không biết ai dây dã cứu mình, liền thốt lời thưa hỏi. Vị Sa-môn nói:


- Anh ngươi là Ngu An Thông phát tâm tạo tượng Phật Thích-ca. Người đã tùy hỷ góp vào công dức ấy ba mươi dồng tiền. Vì ngươi đã dem chút ít tiền giúp tạo tượng ta, nên nay ta đến cửu. Hãy nhìn màu hoa y dễ sau nghiệm rõ.


Nói xong, liền ẩn mất. Do nhân duyên dó, tôi mới thương khó tự hối trách mình dã lầm lạc. bảo "tu hành không lợi ích".


Khi thật khóc, An Lương đến nhà An Thông, thấy tượng Phật Thích-ca của anh tạo, nét hoa y giống như mình dã thấy của vị Sa-môn trong lúc hôn mê. Chừng đó ông mới tin phục cảm ngộ, xuất tiền tự tạo một Phật tượng khác.



10.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT VÀ BỒ TÁT ĐƯỢC SINH LÊN CUNG TRỜI ĐÂU SUẤT


Trích lục: Thường Mẫn Du Lịch Ký.


Sa-môn Thường Mẫn, theo tâm nguyện từ lâu, viễn du sang xứ Thiên Trúc tham lễ các Phật tích. Khi Sư đến nước Tăng-già-bồ-la ở miền Bắc Ân, thấy một tòa thạch tháp cao hơn hai mươi trượng. Bên tháp có ngôi tỉnh xá, trong ấy thờ hai cột tượng Thích-ca và Di-lặc ngồi, bằng gỗ chiên đàn, nét diêu khắc rất đẹp. Tương truyền, nếu chỉ tâm đến trước tượng cầu thỉnh, Phật và Bồ-tát sẽ hiện thân tướng tốt, chỉ bảo cho việc kiết hung.


Về xuất xứ của hai pho tượng, nguyên trước đó có vị Tỳ-kheo trụ ở bên Thạch tháp, tên Đạt-ma-lưu-chi(Trung Hoa dịch là Pháp Ái). Vị Sư này từng phát nguyện tạo pho tượng Bồ-tát Di-lặc. Nhân có một Sa-môn nước khác tỉnh thông về kinh nghĩa, đến trọ ở phòng mình, trong cuộc luận dạo, Dạt-ma-lưu-chi mới trần thuật rằng:


Tôi muốn tạo tượng Di-lặc Bồ-tát dể cầu sinh lên cung trời Dâu-suất.


Vị Sa-môn bảo:


Theo ý tôi, nếu muốn sinh về cung Dâu- suất, thì nên tạo tượng Phật Thích-ca. Bởi đức Di-lặc là đệ tử của dấng Thích Tôn; và những người mà Bồ-tát sẽ hóa độ trong ba hội Long Hoa, trước đó cũng là đệ tử trong di pháp của dức Thích-ca Mâu-ni cả. Như ông có đủ phương tiện, nên tạo luôn hai tượng. Bằng không, nên tạo tượng Phật Thích-ca trước. Kinh Pháp Hoa có nói: "Nay ba cõi đây đều thuộc về ta, chúng sinh trong đó đều là con ta. Duy một mình ta mới cứu độ được". Như thế, ông hả không nhờ ơn Phật ư?


Dạt-ma-lưu-chi nói: - Phật Thích-ca Mâu-ni đã nhập diệt, không còn giáo hóa nơi dời vị lai, làm sao có thể giúp tôi vãng sinh dược?


Rồi Sư vẫn chấp chặt không đồi ý. Kế đó, cả hai vào phòng an nghỉ.


Đêm đã khuya, Dạt-ma-lưu-chi bỗng thức giấc, thương khóc gieo mình nơi dất. Vị Sa-môn ngoại quốc hỏi lý do, sư thuật lại:


Tôi nằm mộng thấy dức Thế Tôn kim thân cao hơn một trượng, dùng lời dịu dàng bảo tôi rằng: “Từ nhiều kiếp dến nay, ngươi là đệ tư của ta, dược ta diều nhiếp dạy dỗ. Ta tuy thị hiện vào Niết-bàn, nhưng thật ra thường còn chẳng diệt, ngươi lại lầm cho là ta dã diệt độ. Ngươi phải biết, hiện nay trong ba cõi, ta hóa hiện du loại thân hình, cho dến làm loài lúa, dậu, cây, có dễ cứu độ chúng sinh. Chư Phật ở mười phương đều giúp ta hóa dạo, tại sao ngươi lại khinh mạn không chịu tạo hình tượng ta? Nếu ngươi không tạo tượng ta, tất không thể sinh lên cung trời Dâu-suất, cùng không dược sinh về Tịnh độ ở mười phương, vì có lỗi khinh phụ bậc dại ân, Di- lặc Bồ-tát và chư Phật dều không chứng minh khen ngợi". Nói xong liền ẩn. 


Sau khi nghe sư Đạt-ma-lưu-chi thuật, vị Sa-môn ngoại quốc ngồi trầm ngâm, không thấy dị dâu, bồng ẩn thân biến mất. Đạt-ma-lưu-chi dầy lòng bị cảm, liền đổi y bát tạo hai pho tượng Thích-ca và Di-lặc. Về sau, theo lời tương truyền, sư được sinh lên cung trời Đâu-suất.


Ngôi tinh xá hiện tại do dân chúng trong nước góp công của kiến tạo lại. Sa-môn Thường Mẫn lưu trú ở đó nhiều ngày, có đảnh lễ hai tôn tượng thỉnh cầu dôi việc riêng, rồi sau mới đi.



TAM BẢO CẢM ỨNG YẾU LƯỢC LỤC


MỤC LỤC


LỜI TỰA



QUYỂN THƯỢNG



1.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỦA VUA ƯU ĐIỄN VÀ BA-TƯ-NẶC

2.- SỰ CẢM ỨNG HỌA TƯỢNG PHẬT CỦA VUA ẢNH THẮNG

3.- SỰ CẢM ỨNG MỘNG THẤY TƯỢNG PHẬT CỦA MINH ĐẾ NHÀ HÁN

4.- SỰ CẢM ỨNG THỈNH TƯỢNG PHẬT CỦA LƯƠNG VÕ ĐẾ

5.- SỰ CẢM ỨNG DI TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC TỪ CÙNG DIÊM-LA TRỞ VỀ


6.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU ĐƯỢC MẠNG CHỒNG

7.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC THẤY CÕI CỰC LẠC

8.- SỰ CẢM ỨNG CỦA HAI NGƯỜI NGHÈO ĐEM TIỀN VÀNG THUÊ HỌA TƯỢNG PHẬT

9.- SỰ CẢM ỨNG GÓP TIỀN TẠO TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC THOÁT KHỔ

10.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT VÀ BỒ-TÁT ĐƯỢC SINH LÊN CUNG TRỜI ĐÂU-SUẤT



11.- SỰ CẢM ỨNG THỜ HỌA TƯỢNG PHẬT A-DI-ĐÀ ĐƯỢC VÃNG SINH

12.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG A-DI-ĐÀ CAO BA TẤC CỦA THÍCH ĐẠO DŨ

13.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU ĐƯỢC SONG THÂN

14.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU CHÚNG SINH Ở TAM ĐỒ

15.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỦA SA-MÔN TĂNG CAO



16.- SỰ CẢM ỨNG PHẬT HÓA CHIM ANH VŨ DẪN NGƯỜI NIỆM PHẬT

17.- SỰ CẢM ỨNG PHẬT HÓA LÀM THÂN CÁ DẪN ĐỘ NGƯỜI NIỆM PHẬT.

18.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM PHẬT ĐƯỢC THOÁT KHỔ ĐỊA NGỤC

19.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT A-SÚC BỆ CỦA THÍCH SONG HUỆ

20.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CÒN ĐƯỢC SỐNG THÊM NĂM MƯƠI NĂM 


21.- SỰ CẢM ỨNG CẦU NGUYỆN PHẬT DƯỢC SƯ ĐƯỢC GIÀU SANG 

22.- SỰ CẢM ỨNG ĐEM MỘT ĐỒNG TIỀN CÚNG PHẬT ĐƯỢC GIÀU SANG

23.- SỰ CẢM ỨNG NGƯỜI PHÁ GIỚI XƯNG HIỆU PHẬT DƯỢC SƯ LẠI ĐẮC GIỚI

24.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT DƯỢC SƯ ĐƯỢC KHỎI TỘI

25.- SỰ CẢM ỨNG MỘT THAI PHỤ ĐƯỢC PHẬT DƯỢC SƯ CỨU KHỎI NẠN 


26.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT DƯỢC SƯ ĐƯỢC HOÀN SINH

27.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT TỲ-LÔ-GIÁ-NA TRỪ ĐƯỢC CHƯỚNG NẠN

28.- SỰ CẢM ỨNG ĐỨC ĐỘNG HIỆP THÂN TỰ XƯNG VÔ GIÁ-ĐÀ-BÀ

29.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TƯỢNG NGẦM ĐỨC PHẬT CỦA NGÀI THÍCH HÀM CHIẾU

30.- SỰ CẢM ỨNG VỀ VIỆC TRUYỀN THỪA CỦA HAI BỘ MẠN-ĐÀ-LA


31.- SỰ CẢM ỨNG LỄ BÁI KIM CANG MẠN-ĐÀ-LA ĐƯỢC ẢNH HƯỞNG GIẢI THOÁT

32.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM THÁNH CHÚNG THAI TẠNG MẠN-ĐÀ-LA ĐƯỢC THOÁT NẠN

33.- SỰ CẢM ỨNG XÁ-LỢI HIỆN ĐIỀM LÀNH

34.- SỰ CẢM ỨNG ÔNG A ĐẮC TẠO CHÙA THÁP ĐƯỢC HOÀN SINH

35.- SƯ CẢM ỨNG NHỜ BẠN CŨ TẠO CHÙA THÁP ĐƯỢC LÌA THÂN MÃNG XÀ


36.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM QUAN ÂM, PHÁT NGUYỆN LÀM THÁP PHẬT ĐƯỢC KHỎI TỘI CHẾT

37.- SỰ CẢM ỨNG ĐO NỀN TỊNH XÁ CỦA TRƯỞNG GIẢ TU ĐẠT

38.- SỰ CẢM ỨNG VỀ QUẢ LÀNH XÂY CẤT CHÙA SAU KHI PHẬT NHẬP DIỆT

39.- SỰ CẢM ỨNG DÙNG CHIẾC GẬY LÀM TRỤ VÁCH TINH XÁ ĐƯỢC KHỎI CHẾT YẾU

40.- SỰ CẢM ỨNG QUÉT SÂN TINH XÁ ĐƯỢC SINH CÕI TRỜI


41.- SỰ CẢM ỨNG DO TẠO TINH XÁ, CHA MẸ NHIỀU ĐỜI ĐƯỢC THÊM PHƯỚC

42.- SỰ CẢM ỨNG VỀ OAI ĐỨC CỦA TINH XÁ PHẬT TẠI NƯỚC THẤT-LA-PHIỆT-TẤT-ĐẾ

43.- SỰ CẢM ỨNG CỦA ĐỨA TRẺ CHƠI ĐÙA, DÙNG LÁ CÂY LÀM TINH XÁ ĐƯỢC SỐNG LÂU

44.- SỰ CẢM ỨNG THẦY TỶ-KHEO TÔ ĐẮP LỖ VÁCH ĐƯỢC TĂNG THỌ

45.- SỰ CẢM ỨNG VUA NƯỚC KIM ĐỊA SỬA CHÙA HƯ ĐƯỢC THÊM TUỔI 




QUYỂN TRUNG



46.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH HOA NGHIÊM, TRÙNG KIẾN NHỜ NƯỚC RỬA TAY ĐƯỢC SINH CÕI TRỜI

47.- SỰ CẢM ỨNG KINH HOA NGHIÊM ĐỔI CHỖ NẰM TRÊN KINH A-HÀM

48.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH HOA NGHIÊM ĐƯỢC TẶNG THUỐC TIÊN

49.- SỰ CẢM ỨNG PHÁP LỰC KINH HOA NGHIÊM ĐÁNH LUI A-TU-LA

50.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG BÀI KỆ KINH HOA NGHIÊM PHÁ ĐƯỢC ĐỊA NGỤC


51.- SỰ CẢM ỨNG LONG TỬ THÀNH TÂM HỌC KINH A-HÀM

52.- SỰ CẢM ỨNG SỰ TĂNG DU TỤNG KINH A-HÀM ĐƯỢC SINH VỀ TỊNH ĐỘ

53.- SỰ CẢM ỨNG TẢ KINH A-HÀM ĐƯỢC SINH CÕI TRỜI

54.- SỰ CẢM ỨNG CON CHÓ NGHE KINH A-HÀM, SAU ĐƯỢC CHỨNG QUẢ

55.- SỰ CẢM ỨNG BẦY DƠI NGHE TẢNG A-TỲ-ĐẠT MA ĐƯỢC GIẢI THOÁT


56.- SỰ CẢM ỨNG CON CHUỘT NGHE TANG LUẬT ĐƯỢC ĐẠO QUẢ

57.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TỶ-KHEO THỌ TRÌ TẠNG LUẬT

58.- SỰ CẢM ỨNG THỌ TRÌ KINH ĐẠI TẬP DIỆT TỘI NGŨ NGHỊCH

59.- SỰ CẢM ỨNG NGHE TÊN KINH PHƯƠNG ĐẲNG ĐƯỢC SINH TỊNH ĐỘ

60.- SỰ CẢM ỨNG TU PHƯƠNG ĐẲNG SÁM PHÁP ĐƯỢC THỌ KÝ


61.- SỰ CẢM ỨNG VỀ GIẢNG TỤNG KINH DUY-MA CẬT

62.- SỰ CẢM ỨNG TẢ KINH DUY-MA CỨU MÌNH VÀ SONG THÂN

63.- SỰ CẢM ỨNG VỀ GIẢNG KINH LĂNG-NGHIÊM

64.- SỰ CẢM ỨNG VỀ GIẢNG TỤNG THẮNG MAN

65.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TU TẬP KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ


66.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TỶ-KHEO THÍCH TĂNG CẢM

67.- SỰ CẢM ỨNG VỀ DIỄN GIẢNG KINH KIM QUANG MINH

68.- SỰ CẢM ỨNG TẠO KINH KIM QUANG MINH SIÊU ĐỘ OAN GIA

69.- SỰ CẢM ỨNG VỀ ĐỌC TỤNG THƯ TẢ KINH DƯỢC SỰ

70.- SỰ CẢM ỨNG VỀ THƯ TẢ KINH TỲ-LÔ-GIÁ-NA


71.- SỰ CẢM ỨNG VỀ ĐEO MANG TÙY CẦU ĐÀ-RA-NI

72.- SỰ CẢM ỨNG VỀ OAI THẦN CỦA TÔN THẮNG ĐÀ-RA-NI

73.- SỰ CẢM ỨNG VỀ VIỆC NGHE KINH THỌ MẠNG

74.- SỰ CẢM ỨNG VỀ BIÊN CHÉP TRÌ TỤNG BÁT-NHÃ TÂM KINH

75.- SỰ CẢM ỨNG KHI DỊCH KINH ĐẠI BÁT-NHÃ


76.- SỰ CẢM ỨNG KHI CÚNG DƯỜNG KINH ĐẠI BÁT-NHÃ

77.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TẢ KINH ĐẠI BÁT-NHÃ

78.- SỰ CẢM ỨNG VỀ NGHE VÀ TỤNG KINH ĐẠI BÁT-NHÃ

79.- SỰ CẢM ỨNG VỀ BIÊN CHÉP, ĐỌC TỤNG KINH KIM CANG BÁT-NHÃ

80.- SỰ CẢM ỨNG VỀ VIỆC GIẢNG TỤNG KINH NHÂN VƯƠNG BÁT-NHÃ


81.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TỤNG KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA

82.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH PHÁP HOA, MÔI VÀ LƯỠI KHÔNG HƯ RÃ

83.- SỰ CẢM ỨNG TỤNG KINH PHÁP HOA ĐƯỢC SINH VỀ TỊNH ĐỘ

84.- SỰ CẢM ỨNG VỀ CÚNG DƯỜNG KINH PHÁP HOA

85.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TRUYỀN BÁ KINH ĐẠI NIẾT-BÀN


86.- SỰ CẢM ỨNG TẢ TỤNG KINH NIẾT-BÀN ĐƯỢC SINH VỀ CÕI PHẬT VÔ ĐỘNG



QUYỂN HẠ



87.- SỰ CẢM ỨNG KHI ĐỨC VĂN-THÙ HẠ SINH

88.- SỰ CẢM ỨNG ĐỨC VĂN-THÙ HÓA LÀM BẦN NỮ

89.- SƯ CẢM ỨNG CẦU VĂN-THÙ BỒ-TÁT

90.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG ĐỨC VĂN-THÙ



91.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHỔ HIỀN BỒ-TÁT

92.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG ĐỨC DI-LẶC Ở NƯỚC Ô TRÀNH

93.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TẠO TƯỢNG BỒ-TÁT DI-LẶC

94.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM

95.- SỰ CẢM ỨNG NIỆM QUÁN ÂM ĐƯỢC SỐNG LÂU


96.- SỰ CẢM ỨNG CÚNG DƯỜNG TƯỢNG QUÁN ÂM HƯ MỤC

97.- SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG THẬP NHẤT ĐIỆN ÂM

98.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN

99.- SỰ CẢM ỨNG HỌA TƯỢNG THIÊN THỦ NHÃN

100.- SỰ CẢM ỨNG CỦA SÁU BỨC TƯỢNG QUÁN ÂM


101.- SỰ CẢM ỨNG VỀ TƯỢNG QUÁN ÂM, ĐỊA TẠNG

102.- SỰ CẢM ỨNG KHI TẠO TƯỢNG ĐẠI THẾ CHÍ BỒ-TÁT

103.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG ĐỊA TẠNG BỒ-TÁT

104.- SỰ CẢM ỨNG CỦA PHÁP TƯỢNG NĂM VỊ BỒ-TÁT

105.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG DIỆT ÁC THÚ BỒ-TÁT

106.- SỰ CẢM ỨNG CỦA TƯỢNG DƯỢC VƯƠNG DƯỢC THƯỢNG BỒ-TÁT

107.- SỰ CẢM ỨNG CỦA ĐÀ-RA-NI TỰ TẠI VƯƠNG BỒ-TÁT

108.- SƯ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG LONG THỌ BỒ-TÁT




LỜI KỆ SAU CÙNG CỦA DỊCH GIẢ


 

Đã y truyện sách biên soạn thành 

Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục 

Các việc như thế hãy còn nhiều 

Chỉ ghi một ít làm tín chứng 

Nguyện người nghe thấy đều phát tâm 

Tạo kết duyên lành ngôi Tam Bảo 

Dù rằng tin ngợi hoặc nghi chê 

Đều mong lợi ích thoát sinh tử 

Phật từng thọ ký đời mạt pháp 

Nghe danh Tam Bảo khởi lòng tin 

Tội chướng ba đời đều tiêu trừ 

Kiếp sau được gần các Hiền Thánh. 

 

Nguyện đem công đức biên soạn này 

Hồi hướng chúng sinh trong pháp giới

Được nhiều thắng duyên thêm phước huệ 

Đều chứng Vô Thượng đại Bồ-đề. 









6.- Ẩn tu bền chí giữ công phu

Ba cõi không an lửa ngục tù !

Ngũ-dục, Hoàng-lương say gối mộng

Kiếp người dường một thoáng phù du !

 

7.- Ẩn tu riêng chạnh nỗi riêng mình

Túc trái gây nên, mối bất-bình

Tích phước tu-hành rồi tạo nghiệp

Cánh bèo trôi giạt biển phù sinh.

 

8.- Ẩn tu tưởng lại quả đời nay

Bao lớp gian truân nỗi đoạ đày !

Ẩn nhẫn trả xong tròn nghiệp trước

Dấu hồng chuyện cũ tuyết mờ bay !

 

9.- Ẩn tu nhớ đến đức sanh thành

Lắm lúc vì con chẳng tạo lành

Con lớn Mẹ Cha oằn gánh nghiệp

Bảo châu đền đáp cũng mong manh !

 

10.- Ẩn tu nguyện trả nghĩa song đường

Hồi hướng công phu mỗi khoá thường

Lại khuyến nghiêm-từ tâm đạo phát

Nương thuyền Phật huệ đến Tây-phương.





PHÁP YẾU TU HÀNH

Hòa-Thượng Thích-Thiền-Tâm

 

 

Yếu điểm của đường tu

Gồm hai phần Sự, Lý.

 

LÝ tu là sửa tâm

Cho hợp với chân lý

Sự tu chỉnh ba nghiệp

Giúp chứng cảnh chân như

Sửa tâm là dứt trừ

Nghiệp tham, ái, nóng, giận

Si mê cùng tật đố

Ngã mạn với kiêu căng

Chớ chạy theo hình thức

Say đắm nẻo lợi danh

Chuộng địa vị, quyền hành

Khoe thông minh, tài giỏi

Phải sanh lòng giác ngộ

Niệm thanh tịnh từ bi

Dõng tiến mà kiên trì

Sáng suốt mà khiêm hạ

Tự nghĩ mình xưa nay

Ðã tạo nhiều tội chướng

Chịu nhẫn nhục, sám hối

Biết an phận, tùy duyên

Duyên tốt chẳng kiêu khoe

Duyên xấu không thối não

Bình tỉnh mãi tiến tu

Như bơi thuyền ngược nước

Về biển Tát Bà Nhã

Ðến Bảo Sở an vui

Ðó là phần tu tâm

Hợp với lý giải thoát.

 

SỰ tu là thân nghiệp

Lễ kính Phật sám hối

Khẩu nghiệp trì chú kinh

Hoặc niệm Phật khen ngợi

Ý  nghiệp giữ thanh tịnh

Mật tu môn Lục Niệm

Nguyện đền đáp bốn ân

Nguyện mình cùng chúng sanh

Sanh cõi vui thành Phật

Ðời đời gặp chánh Pháp

Tu sáu độ muôn hạnh

Tâm Bồ Ðề độ sanh

Trần kiếp không thối chuyển

Tu Sự mà bỏ Lý

Làm sao mở chân tâm?

Tu Lý mà phế Sự

Cũng không thể thành Phật !

Tu Sự chẳng chấp TƯỚNG

Thì tức SẮC là KHÔNG

Tu Lý không bỏ Sự

Ðó tức KHÔNG là SẮC

Lý chính thật Chân-Không

Sự là phần Diệu-Hữu

Chân-Không tức Diệu-Hữu

Diệu-Hữu tức Chân-Không

Nếu chưa đạt lẽ nầy

Thà tu hành chấp CÓ

Ðừng cầu cao bác tướng

Mà lạc vào Ngoan-Không

Ðây chính hầm khổ đọa

Kẻ thông minh đời nay

Ða số mắc lỗi nầy.

Xưa có sư TÔNG THẮNG

Tài huệ biện cao siêu

Vì ỷ giỏi kiêu căng

Nên bị nhục chiết phục

Hỗ thẹn muốn tự tận

Thọ thần hiện thân khuyên

“ Sư nay đã trăm tuổi 

Tám mươi năm lầm lạc

May nhờ gặp Thánh nhân

Huân tu mà học đạo

Tuy có chút công đức

Mà lòng hay bỉ ngã

Ỷ thông minh biện bác

Lấn người không khiêm hạ

Lời cao hạnh chưa cao

Nên phải bị quả báo

Từ đây nên tự kiểm

Ít lâu thành trí lạ.

Các THÁNH đều tồn tâm

NHƯ LAI cũng như vậy ”

Lại có kẻ đua tướng

Tranh Thượng Tọa ,Ni Sư

Mượn thuyết pháp, tụng kinh

Ðể mưu cầu lợi dưỡng

Dành đệ tử, chùa chiền

Lập bè đảng, quyến thuộc

Thấy có ai hơn mình

Liền thị phi tật đố

Hại Thầy Bạn, phản Ðạo

Lừa dối hàng tín tâm

Lời nói thật rất cao

Việc làm thật rất thấp

Lý Sự đều sai trái

Hạng ấy hiện rất nhiều

Tạo biển khổ thêm sâu

Khiến đau lòng tri-thức

Lý, Sự đại lược thế.

 

CÔNG ĐỨC làm sao được?

Phật là ÐẠI Y VƯƠNG

Pháp là DIỆU TIÊN DƯỢC

Là phương-thuật rất mầu

Là như-ý bảo châu

Hay trừ nạn nghèo khổ

Khiến cho được giàu vui

Hay trừ tất cả bệnh

Khiến mau được bình phục

Hay trừ nạn yểu số

Khiến thọ-mạng dài lâu

Hay khỏi các tai ách

Như bão lụt, binh lửa

Giặc cướp cùng tà ngoại

Ác thú với độc xà

Các yêu ma , quỷ mị

Nạn động đất, xe, thuyền

Những phù-chú ếm-đối

Ðều phá tiêu tan hết

Cho đến trừ tội chướng

Sanh trưởng phước huệ to

Cứu chúng đọa Tam Ðồ

Siêu lên bờ giải thoát.

CHUYÊN TỤNG một phẩm Kinh

Một Chân-Ngôn, hiệu Phật

Thì thành tựu các nguyện

Thỏa mãn các mong cầu

Chỉ sợ người không tin

Hoặc tin mà không sâu

Lại ngại không thực hành

Hoặc hành không bền lâu

Hoặc tuy hành bền lâu

Không chí tâm khẩn cầu

Chí tâm là không vọng

Trì niệm quên thân tâm

Lặng lẽ dứt phân biệt

Không trong, ngoài, người, cảnh

Khi đi, đứng, thức, ngủ

Chẳng bỏ câu trì niệm

Lúc hưỡn, gấp, an, nguy

Cũng vững vàng trì niệm

Cho đến khi sắp chết

Vẫn như thế trì niệm

Ðắc, thất đều do đây

Cần chi hỏi tri thức

Không hành như trên đây

Phật cũng khó cứu vớt

Huống nữa là PHÀM TĂNG

Giúp ích được gì đâu

Nhớ lời Cổ Ðức dạy:

“Ta có một bí quyết

Khẩn thiết khuyên bảo nhau

Là hết lòng THÀNH KÍNH

Nhiệm mầu cực nhiệm mầu ”

Hãy ghi nhớ lời nầy

LẮNG LÒNG suy gẫm sâu.

Trời xanh tươi biếc một mầu

Ánh trăng vẫn sáng một mầu xưa nay

Mà sao đời đạo đổi thay

Cỏ hoa đượm nét u-hoài thờ-ơ

“THUYẾT PHÁP bất đậu cơ

Chúng sanh một khổ hải ”

Ðời mạt suy thế đạo lại thêm thương

Sóng dồn bọt biển tà dương

Con thuyền cứu độ khuất đường vân yên

Bụi hồng tung gió đảo điên

Vô tình mai nở diệu hiền cành xuân.


Nam-mô Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như-Lai.

 







BẠT NHỨT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BỔN

ĐẮC SANH TỊNH ĐỘ ĐÀ RA NI

 

NAM MÔ A DI ĐA BÀ DẠ, ĐA THA DÀ ĐA DẠ, ĐA ĐIỆT DẠ THA. A DI RỊ ĐÔ BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TỲ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐẾ, A DI RỊ ĐA TỲ CA LAN ĐA, DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA, CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA. 

UM! BÚT RUM! HÙM!


(21 lần)



VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI CHƠN NGÔN

  

NAM MÔ RÁT NA TRA DẠ DA. 

NAM MÔ A RỊ DA.  A MI TÁ BÀ DA.  TÁT THA GA TÁ DA.  A RA HA TI.  SAM DẮT SAM BUÝT ĐÀ DA.  TÁT DA THA. 

UM !  A MI RỊ TI.  A MI RỊ TÔ NA BÀ VÊ.  A MI RỊ TÁ SAM BÀ VÊ.  A MI RỊ TÁ GA BÊ.  A MI RỊ TÁ SUÝT ĐÊ.  A MI RỊ TÁ SI TÊ.  A MI RỊ TÁ VI CA LĂN TÊ.

A MI RỊ TÁ VI CA LĂN TÁ GA MI NỊ.  A MI RỊ TÁ GÀ GA NA KY TI CA LI.  A MI RỊ TÁ LÔ ĐÔ VI SA PHẠ LI.  SẠT VA RỊ THÁ SA ĐÀ NI.  SẠT VA MA CA LI.  SA KHẤT SÁ DU CA LI.  SÓA HA.  UM! BÚT RUM! HÙM!


 (21 lần)


Nam mô Tây phương cực lạc thế-giới giáo chủ, thọ quang thể tướng vô-lượng vô-biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư, PHÁP GIỚI TẠNG THÂN A DI ĐÀ NHƯ LAI biến pháp giới Tam bảo.




NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

(niệm mau 10 hơi)





(KINH: Lúc xướng chữ A, thời nhập bát nhã ba la mật môn tên là Bồ Tát oai lực nhập vô sai biệt cảnh giới.)



Đức Phật Thế-Tôn, Chánh Biến Tri

Tướng hảo đoan nghiêm đều viên mãn,

Rủ lòng đại từ bi vô hạn,

Mở bày đại pháp cứu quần mê.


Niệm Phật hiện tiền đắc Phật tướng,

Thâm nhập cảnh giới bất tư nghị.

Nhân đây Bồ-Tát Sơ phát tâm,

Quyết định một lòng xưng niệm Phật,

Hồng danh chứa nhóm vô lượng nghĩa,

Lợi lạc muôn ức chúng hữu tình.

Đức Phật Thế-Tôn, đấng Vô-thượng

Tri kiến, giác ngộ đều quang minh,

Rắc rải tuệ nhật khắp mười phương,

Rưới trận mưa pháp như Cam lộ.


Niệm Phật vãng sanh cõi Cực-Lạc,

An nhiên chứng đắc Vô-Sanh-Nhẫn.

Nhân đây Bồ-Tát Sơ phát tâm,

Gìn giữ thân tâm bằng Phật hiệu,

Hồng danh tỏ ngộ Chân Như Tánh,

Dẫn dắt chúng sanh vào Tam-muội.

Đức Phật Như-Lai đấng Bất-động

Chẳng đến, chẳng đi, chẳng đoạn thường,

Xa lìa chấp hữu hoặc chấp vô,

Tự tại chỉ bày phương tiện lực.


Niệm Phật an trụ nơi bản giác,

Tùy nghi hòa hợp với tánh Không.

Nhân đây Bồ-Tát Sơ phát tâm,

Trang nghiêm tự thân bằng niệm Phật,

Hồng danh hiển phát Hư-Không-Tạng,

Tức thời thẳng vào Viên-giác-tánh.

Con nay xưng tán Đại Đạo-Sư,

Khen ngợi hồng danh vô lượng lực.


Nguyện đem hồi hướng khắp chúng sanh,

Mong cầu hết thảy cùng niệm Phật.


NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT



Từ Tán Tâm Sẽ Đi Đến Định Tâm

 

Miệng niệm Phật, tâm tưởng Phật, hoặc trụ nơi câu niệm Phật, gọi là Định Tâm Niệm Phật. Miệng niệm Phật, tâm không nhớ Phật mà suy nghĩ mông lung việc khác, đó là Tán Tâm Niệm Phật. Tán tâm mà niệm, hiệu lực so với định tâm yếu kém rất nhiều. Vì lẽ ấy, từ xưa đến nay các bậc thiện tri thức đều khuyên người cố gắng định tâm trì niệm, đừng để tán tâm.


Cho nên tán tâm niệm Phật không đủ làm gương mẫu.

 

Tuy nhiên, mỗi tác động bên ngoài đều liên quan đến tiềm thức, tức là thức thứ tám ở bên trong. Nếu tán tâm niệm Phật hoàn toàn không công hiệu, thì sáu chữ hồng danh kia từ đâu phát hiện? Đã có sáu chữ hiện thành, tất phải có hai chuyển lực: một là do chủng tử, từ tiềm thức phát hiện ra ngoài. Hai là sức tác động từ ngoài lại huân tập trở vào bên trong. Cho nên chẳng thể nói tán tâm niệm Phật hoàn toàn không công hiệu, bất quá so với định tâm nó yếu kém hơn nhiều mà thôi. Lối niệm tán tâm từ xưa đến nay không được đề xướng, nhưng hàm ý và công dụng của nó cũng không thể phủ nhận. Vì thế cổ nhơn có lưu một bài kệ rằng:


Di Đà sáu chữ pháp trung vương,
T
ạo niệm phân vân chớ ngại màng!
Muôn d
ặm phù vân che ánh nhật.
Nh
ơn hoàn khắp xứ ửng dương quang.

 

Bài kệ này suy ra có điều xác đáng. Bởi hạt giống niệm Phật nơi thức thứ tám khi thành thục, tất dẫn phát thức thứ sáu khiến cho sanh khởi tịnh niệm. Rồi từ thức thứ sáu lại cổ động ra năm thức trước để thành hiện hành. Nhưng vì lúc chủng tử niệm Phật trải qua thức thứ sáu, bởi trần nhiễm của chúng sanh sâu dày, nên bị các niệm khác lấn cướp, tuy có lọt khỏi vòng vây song ảnh hưởng còn lại chẳng bao nhiêu. Ví như ánh mặt trời tuy rực rỡ, nhưng vì bị nhiều lớp mây che, nên khi lọt xuống nhân gian, chỉ còn vẻ ửng sáng. Nhưng ánh sáng thừa ấy sở dĩ có, cũng do công năng ảnh hưởng của mặt trời. Biết được lẽ này, người tu Tịnh Độ đừng quá ngại màng đến tạp tưởng phân vân, chỉ liên tiếp niệm hết câu này sang đến câu khác, chánh niệm còn được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Niệm như thế một lúc lâu, tự nhiên ngựa ý sẽ quay về tàu, vượn lòng lần lần vào động. Niệm một lúc lâu nữa, thì chánh niệm hiển lộ rõ ràng, không cần gạn bỏ điều nhiếp, mà tự nhiên thành tựu. Hiểu được lẽ này thì chỉ quý niệm nhiều, đừng ngại tán tâm. Như nước tuy bợn đục, lóng mãi tất sẽ thành trong. Người tuy tạp niệm nhiều, niệm Phật lâu tất sẽ thành chánh niệm. Nên biết cổ đức khi đi đứng nằm ngồi và tất cả hành động đều niệm Phật. Nếu các vị ấy hoàn toàn dùng định tâm mà niệm, thì lúc đi đường tất phải vấp chạm, hoặc khi tả kinh hay làm việc cũng không thể thành công.


Cho nên người xưa cũng có lúc phải phân tâm mà niệm, nhưng vẫn không rời câu niệm Phật, bởi dù có tán tâm vẫn không mất phần ảnh hưởng.

 

Đến đây, xin thuật một câu chuyện. Lúc nọ, có người đến hỏi một thượng tọa: "Thưa thật với thầy, tôi niệm Phật đã hơn mười năm nay mà vọng niệm vẫn còn nhiều, không biết cách chi trừ diệt. Tôi có đi nhiều nơi cầu hỏi phương pháp với những bậc đã tu trước mình. Vị này đưa kinh nghiệm này, vị kia dạy cách khác, có một đại đức lại khuyên tôi nên nín hơi niệm luôn hai mươi mốt câu rồi nuốt một cái. Tôi đã áp dụng qua đủ mọi phương thức, nhưng chỉ định tâm được lúc đầu, rồi sau có lẽ vì lờn quen nên vọng niệm trở lại như cũ. Không biết thầy có phương pháp nào hữu hiệu để dạy tôi chăng?"


Vị thượng tọa đáp: "Điểm thất bại đó do ông không bền lòng, mà cứ thay đổi đường lối. Nên biết phàm phu chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay gây tạo nghiệp nhiễm vọng quá nhiều đâu thể nhứt thời mà thanh tịnh được! Chỗ cốt yếu là phải dụng tâm cho bền lâu. Tôi xin đưa ra đây hai thí dụ: Ví như một bình nước hôi nhơ dẫy đầy, ông đem nước thơm sạch đổ vào. Vì nước dơ đã đầy, nước sạch tất phải dội ra ngoài, song ít nhứt nó cũng lưu lại trong bình một vài giọt. Nếu ông cứ bền tâm đổ vào mãi, ngày kia bình nước hôi sẽ hóa ra nước sạch thơm. Lại ví như ông đau bịnh dạ dày, uống thuốc chi cũng đều ói mửa ra. Ông cứ bền lòng dùng ngay thuốc trị bịnh dạ dày mà uống, đừng thay đổi thuốc chi khác. Mỗi phen uống tuy có bị ói mửa, nhưng chất thuốc cũng lưu lại ít nhiều, lần lần bệnh của ông sẽ dứt. Bệnh phiền não vọng tưởng của chúng sanh cũng thế, dùng thuốc niệm Phật điều trị tự nhiên là thích đáng, nếu thay đổi mãi làm sao thành công? Như có người dùng phèn lóng nước, nó chưa kịp trong, lại nóng nảy vội quậy lên đổ muối vào, đổ muối chưa kịp trong, lại quậy lên đổ vôi bột vào. Cứ thay đổi mãi như thế, làm sao nước trong cho được? Thế nên vấn đề dứt vọng niệm, không phải do nơi thay đổi nhiều phương pháp, mà ở nơi lựa một phương pháp thích hợp rồi thật hành cho bền lâu là thành tựu." Vị ấy nghe xong gật đầu cho là hữu lý.

 

Như đã nói, muốn được định tâm, điểm căn bản là phải dụng công cho bền lâu. Tuy nhiên nếu sợ niệm lực tán loạn, cần có phương tiện để tâm dễ yên tịnh, thì nên áp dụng pháp Thập Niệm Ký Số đã trình bày ở trước. Phép này do dùng hết tâm lực ghi nhớ từ một đến mười câu, nên dễ vào tịnh định. Nếu tâm còn rối loạn và không thể dùng phép Thập Niệm Ký Số, thì trong mỗi câu niệm chỉ cần chú tâm ghi giữ cho chắc một chữ "A". Khi chữ A còn thì mấy chữ khác đều còn, nếu mê mờ để cho nó mất, tất năm chữ kia cũng mất. Lại chữ A  cũng chính là chữ căn bản, và là mẹ của tất cả chữ. Chú tâm vừa niệm vừa ghi chắc chữ A, lâu lâu tự nhiên tâm và cảnh đều tiêu tan dung hợp thành một khối, lượng rộng lớn dường hư không, Phật và mình cũng đều mất.



 

Lúc bấy giờ đương nhiên chữ A cũng không còn. Nhưng lúc trước nó mất là do bởi tâm xao động rối loạn, lúc này nó không còn chính thuộc về trạng thái dung hóa của thường định. Đây là hiện tượng tâm cảnh đều không, điểm sơ khởi để đi vào Niệm Phật Tam Muội.

 

Niệm Phật Thập Yếu





MỘT TRĂM BÀI KỆ NIỆM PHẬT 


 Tế Tỉnh Đại Sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường



Một câu A Di Ðà

Như ngọc lắng trong nước

Ngàn muôn tạp niệm rối

Chẳng dứt tự thành không.

 

Nhứt cú Di Ðà

Như thủy thanh châu

Phân vân tạp niệm

Bất đoạn tự vô.


Hạt châu Thủy Thanh có công năng lóng nước đục thành trong. Câu niệm Phật cũng thế, không luận vọng niệm nhiều ít, hành giả cứ chuyên chú giữ chắc sáu chữ hồng danh lâu ngày, tạp niệm tự nhiên tan mất. Ðiểm đáng lưu ý trong đây là không nên khởi tâm dứt trừ vọng niệm. Vì vọng niệm vốn như huyễn, cố tình muốn dẹp, nó lại càng tăng. Một nhà hiền triết đã nói kinh nghiệm này qua câu: "Càng muốn đè nén, chính là cố tâm làm cho nó thêm phát khởi." (Tương dục án chi, tất cố hưng chi).


Khi xưa có một Tú Tài đến phỏng đạo nơi bậc cao đức, vị Thiền sư này hỏi: “Cư sĩ tên họ chi?" Tú Tài đáp: "Thưa, đệ tử nhũ danh Trương Chuyết". Chữ Chuyết có nghĩa là vụng về. Thiền Sư nghe xong bảo: “Với đạo khéo còn chẳng có, huống chi đến vụng!" Tú Tài nghe qua liền ngộ vào Bất Nhị pháp môn, làm kệ trình lên rằng:


Ánh linh lặng chiếu khắp hằng sa
Phàm thánh nguyên lai bản tánh ta
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị mây lòa
Dứt trừ phiền não càng thêm bịnh
Tìm tới Chân Như cũng vẫn tà
Tùy thuận các duyên không trở ngại
Niết bàn sanh tử tợ không hoa.


Theo ý hai câu luận bài kệ trên, phiền não vốn là không, là huyễn, cứ mặc nhiên giữ chánh niệm, nó sẽ tự tiêu tan. Nếu khởi ý dứt trừ thì phiền vọng lại hóa thành có. Chân Như là thể tánh tự nhiên, biết lặng lẽ dung hợp với tự nhiên, tánh Chân Như sẽ hiển lộ. Nếu khởi tâm tìm tòi xu hướng, tức có niệm phân biệt, trái với thể bản nhiên, đó chính là tà vọng. Ðể bổ túc ý trên, xin ghi thêm lời của Ðàm Hư đại sư, một bậc cao tăng cận đại thuộc giáo phái Thiên Thai bên Trung Quốc.


Ðây Phật Tổ quê hương
Xứ xứ hiện phong quang
Nước non miền đất rộng
Ưng tự có biên cương
Ðộng vật tùy sanh trưởng
Thực vật tự phô trương
Nắng mưa tùy đổi tiết
Tháng năm tự đoản trường
Vinh hư muôn tượng hiện
Là tự thể chân thường
Nếu cố ý cầu toàn
Trở lại bị tổn thương!

Comments

Popular posts from this blog